Human Rights

Việt Nam phải trả tự do ngay lập tức cho tù nhân lương tâm Mục sư Nguyễn Công Chính và dừng ngay việc quấy rối gia đình ông

Thư Ngỏ

Việt Nam phải trả tự do ngay lập tức cho tù nhân lương tâm Mục sư Nguyễn Công Chính và dừng ngay việc quấy rối gia đình ông

23 tháng 5 năm 2017

Kính gửi: Chủ tịch nước Trần Đại Quang,
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, và
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thi Kim Ngân
của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Chúng tôi, các tổ chức và cá nhân ký tên dưới đây, kêu gọi Chính phủ nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hãy trả tự do vô điều kiện, ngay lập tức cho Mục sư Nguyễn Công Chính; tiến hành một cuộc điều tra kịp thời, khách quan, độc lập và có hiệu quả về những cáo buộc về sự ngược đãi ông đã chịu trong lao tù và vợ ông, bà Trần Thị Hồng, đã bị tra tấn bởi chính quyền địa phương Phường Hoa Lư, Thành phố Pleiku, Tỉnh Gia Lai khi bà bị họ giam giữ trong năm 2016; đưa ra công lý bất cứ những thủ phạm nào được xác định, và bồi thường cho Mục sư Nguyễn Công Chính và bà Trần Thị Hồng đầy đủ theo đúng các nghĩa vụ của Việt Nam theo Công Ước Quốc Tế Về Các Quyền Dân Sự Và Chính Trị (ICCPR) và Quy Ước Chống Tra Tấn Và Những Sự Đối Xử hay Hình Phạt Tàn Nhẫn, Phi Nhân hay Có Tính Cách Nhục Mạ (CAT).

Mục sư Tin Lành Nguyễn Công Chính đã bị kết án 11 năm tù vào năm 2012 sau khi bị ghép tội “phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc” theo Điều 87 của Bộ luật Hình sự của Việt Nam “bằng cách duy trì mối quan hệ với các nhóm bất đồng chính kiến và phân phối tài liệu bị cho là vu khống nhà cầm quyền”. Ông bị bắt giam và cầm tù một cách tuỳ tiện chỉ vì thực hành đức tin một cách ôn hòa và thực hiện các quyền con người của mình như tự do tư tưởng, lương tâm, tôn giáo và tự do ngôn luận. Chính quyền không thể biện minh cho việc giam giữ, ngược đãi và phủ nhận các quyền của ông trong trại giam dựa trên những hoạt động bất bạo động của ông trong việc chỉ trích chính sách của chính phủ. Những ngược đãi bao gồm việc ông bị hành hạ tinh thần và thể xác bởi các tù nhân khác có sự thông đồng hoặc không có sự can thiệp của ban quản giáo; không được điều trị bệnh, bị biệt giam trong một thời gian dài và không được thực hành tôn giáo của mình cũng như không được mua thêm thực phẩm từ căng tin để bổ sung chế độ ăn uống thiếu thốn của nhà tù. Tóm lại, những cáo buộc về cách ông bị đối xử trong tù được coi như là một hình thức tra tấn hoặc những hành động tàn ác, vô nhân đạo và có tính cách nhục mạ đều bị cấm theo ICCPR, CAT và các tiêu chuẩn tối thiểu của Liên Hiệp Quốc về Đối xử với Tù nhân (Quy tắc Nelson Mandela).

Ngoài ra, các thành viên trong gia đình Mục sư Chính, trong đó có vợ ông là bà Hồng Trần, cũng là nạn nhân bị sách nhiễu, tra tấn hoặc ngược đãi. Ngày 14 tháng 4 năm 2016 tại phường Hoa Lư, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, Việt Nam, bà Hồng cáo buộc rằng có một số người đàn ông không xác định được nhân thân – những người mà bà tin là nhân viên an ninh – ép buộc bà vào xe và đưa bà đến Văn phòng Ủy ban Nhân dân. Chính tại nơi đây bà nói rằng bà đã bị tra tấn dã man trong hơn ba tiếng đồng hồ khi họ tra hỏi về cuộc gặp mặt với một phái đoàn Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế tổ chức vào ngày 30 tháng 3 năm 2016. Bà cũng cáo buộc bà là nạn nhân của một số vụ hành hung khác đã xảy ra trong tháng 5 năm đó trong khi bị thẩm vấn về những hoạt động của bà.

Theo các điều ước quốc tế ràng buộc nhà nước, việc tra tấn và các hình thức đối xử hay trừng phạt độc ác, vô nhân đạo hoặc có tính cách hạ nhục đều bị cấm trong mọi trường hợp và tra tấn là tội phạm theo luật quốc tế. Theo Hiến pháp mới nhất (năm 2013), nhà nước “thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm nhân quyền” đảm bảo rằng “công dân sẽ được hưởng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, tập hợp, thành lập các hiệp hội và tổ chức các cuộc biểu tình” , trong khi Điều 24 bảo đảm “tự do tín ngưỡng và tôn giáo”và bình đẳng của tất cả các tôn giáo trước pháp luật

Trong vai trò của những vị lãnh đạo chính phủ của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, quý vị có quyền hạn để đảm bảo rằng luật pháp của quốc gia tuân thủ các nghĩa vụ quốc tế và luật pháp đó phải được thực thi một cách nghiêm túc.

Chúng tôi trân trọng yêu cầu chính phủ của quý vị trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho Mục sư Nguyễn Công Chính và hoàn toàn khôi phục các quyền hợp pháp của ông; tiến hành một cuộc điều tra kịp thời, khách quan, độc lập và có hiệu quả về những cáo buộc về sự ngược đãi và tra tấn mà ông và vợ là bà Trần Thị Hồng đã và đang gánh chịu, cùng lúc đưa ra công lý bất cứ những thủ phạm nào được xác định, và bồi thường cho Mục sư Nguyễn Công Chính và bà Trần Thị Hồng đầy đủ theo đúng các nghĩa vụ của Việt Nam theo Công Ước Quốc Tế ICCPR và CAT; và hãy tôn trọng các tiêu chuẩn và luật nhân quyền quốc tế như quyền tự do tư tưởng, lương tâm, tôn giáo và tự do ngôn luận, quyền tụ tập ôn hòa và lập hội.
Cộng đồng của các tổ chức xã hội dân sự và những nhà ủng hộ nhân quyền ở khu vực Đông Nam Á và trên toàn thế giới vẫn tiếp tục theo dõi tình hình của Bà Trần Thị Hồng và Mục sư Nguyễn Công Chính với mối quan tâm sâu sắc, và chúng tôi sẽ tiếp tục quan tâm cho đến khi ông được thả ra và và những thủ phạm được đưa ra công lý thông qua các quy trình pháp lý thích hợp.

ĐỒNG KÝ TÊN:

1. Vietnamese Women for Human Rights (Hội Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam) – VIET NAM
2. Amnesty International – UNITED KINGDOM
3. Anushani Alagarajah, Researcher and Activist – SRI LANKA
4. Aravinth. S, Activist – SRI LANKA
5. Bàn Tròn Đa Tôn Giáo Việt Nam (Vietnam Multi-Faith Roundtable) – VIET NAM
6. Bhawana Bhatta, Women Dialogue Forum – NEPAL
7. Boat People SOS – UNITED STATES OF AMERICA
8. C. Nasser Ahmad – UNITED STATES OF AMERICA
9. Campaign to Abolish Torture in Vietnam – UNITED STATES OF AMERICA
10. Center for Inquiry – UNITED STATES OF AMERICA
11. Chihiro Muranaka – JAPAN
12. Christian Solidarity Worldwide – UNITED KINGDOM
13. Church of Scientology National Affairs Office – WASHINGTON, DC
14. Civil Rights Defenders – SWEDEN
15. Coalition for a Free and Democratic Vietnam – UNITED STATES OF AMERICA
16. Committee for Religious Freedom in Vietnam – UNITED STATES OF AMERICA
17. Con Dau Parishioners Association – VIET NAM
18. Dhruba Basu, Participatory Research in Asia – INDIA
19. Dr. Aurora Parong, Medical Action Group – PHILIPPINES
20. Đinh Đức Long, Hội Hỗ Trợ Nạn Nhân Bạo Hành Việt Nam (Association for Support Victims of Torture) – VIET NAM
21. Freedom House – UNITED STATES OF AMERICA
22. Gerelee Odonchimed – MONGOLIA
23. Greg Mitchell, Co-Chair, International Religious Freedom Roundtable; President, The Mitchell Firm – UNITED STATES OF AMERICA
24. Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo (Vietnamese Political & Religious ​Prisoners Friendship Association) – VIET NAM
25. Hội Phát Huy Tự Do Tôn Giáo hay Niềm Tin Việt Nam (Association to Freedom of Religion or Belief in Vietnam) – VIET NAM
26. Hội Thánh Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên (Central High Montagnard Evangelical Church Of Christ) – VIET NAM
27. International Commission of Jurists – GENEVA, SWITZERLAND
28. International Institute for Religious Freedom – (BONN – BRASILIA – CAPE TOWN ​- COLOMBO)
29. Jinshiro Motoyama – JAPAN
30. Jubilee Campaign USA – UNITED STATES OF AMERICA
31. Khối Nhơn Sanh Đạo Cao Đài (Popular Council of Cao Dai Religion) – VIET NAM
32. Lester Shum – HONG-KONG
33. Liên Minh Chống Tra Tấn (Vietnam – Coalition Against Torture (VN-CAT)) – VIET NAM
34. Montagnard Human Rights Organization – NC, UNITED STATES OF AMERICA
35. Mory Sar, Cambodia Youth Network – CAMBODIA
36. Nguyễn Đan Quế, Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm (Former Vietnamese Prisoners of Conscience) – VIET NAM
37. Nhóm Linh Mục Nguyễn Kim Điền (The Nguyen Kim Dien Priests Group – Linh Mục Phan Văn Lợi) – VIET NAM
38. Nhóm Người Bảo Vệ Nhân quyền (Defend the Defenders) – VIET NAM
39. Norwegian Helsinki Committee – NORWAY
40. Quê Mẹ: Vietnam Committee on Human Rights – FRANCE
41. Quỹ Tù Nhân Lương Tâm Úc Châu (Prisoners Of Conscience Fund) – AUSTRALIA
42. Religious Freedom Institute – UNITED STATES OF AMERICA
43. Shreen Abdul Saroor, Activist – SRI LANKA
44. Shui Meng Ng, Sombath Initiative – LAOS
45. Tanathorn Tananont, Human Rights Lawyer – THAILAND
46. The Russian Orthodox Church of America – UNITED STATES OF AMERICA
47. Việt Thức Foundation – UNITED STATES OF AMERICA
48. Vietnamese Unified Buddhist Sangha – VIET NAM
49. Vũ Quốc Ngữ & Huỳnh Thục Vy, Mạng Lưới Các Tổ Chức Xã Hội Dân Sự Độc Lập Việt Nam – (Vietnamese Independent Civil Society Network (VICSON)) – VIET NAM
50. William Nicholas Gomes, Human Rights Defender and Freelance Journalist – UNITED KINGDOM

Vietnam must immediately release prisoner of conscience Pastor Nguyen Cong Chinh and end harassment of his family.

Press Release

For immediate release
May 31, 2017
Contact: info@vnwhr.net

On the occasion of Vietnamese Prime Minister Nguyen Xuan Phuc’s meeting with U.S. President Donald Trump at the White House, today Vietnamese Women for Human Rights (VNWHR) publicly releases the open letter to Vietnam’s government leaders calling for the immediate and unconditional release of Lutheran Pastor Nguyen Cong Chinh who is serving an 11-years prison sentence for defending and promoting religious freedom in the Central Highlands of Vietnam. The letter also condemns the alleged harassment of his wife, Mrs. Tran Thi Hong, which may amount to torture or ill-treatment.

Fifty human rights organizations and individual human rights advocates around the world endorsed the open letter, which directly addresses Vietnam’s President Tran Dai Quang, Prime Minister Nguyen Xuan Phuc and National Assembly Chair Nguyen Thi Kim Ngan:

“We respectfully urge that your government immediately and unconditionally release Pastor Nguyen Cong Chinh and fully restore his legal rights; carry out prompt, impartial, independent and effective investigations into the allegations of torture and other ill-treatment made by Pastor Chinh and his wife Mrs. Hong and bring any identified perpetrators to justice following fair trials and provide reparations to Pastor Chinh and Mrs. Tran Thi Hong in accordance with Vietnam’s obligations under the ICCPR and CAT; respect international human rights laws and standards generally including the rights to freedom of thought, conscience and religion, speech, peaceful assembly and association in particular.”

The signatories, coming from some 20 countries, reaffirm their resolve to continue the advocacy efforts until Pastor Chinh is set free and justice rendered to him and Mrs. Hong:

“The community of civil society organizations and human rights advocates in Southeast Asia and around the world continue to monitor closely the situation of Mrs. Tran Thi Hong and Pastor Nguyen Cong Chinh, and we will continue to do so until he is released and the criminal conviction is expunged through appropriate legal processes.”

Soon after her meeting with a U.S. Department of State delegation on March 30, 2016 to seek intervention on behalf of her imprisoned husband, Mrs. Hong reportedly suffered torture, beating, harassment and/or intimidation during “working sessions” conducted by the public security of Gia Lai Province for almost two months.

Mrs. Hong is a co-founder and key member of VNWHR.

_______________________________________________________

Open Letter

Vietnam must immediately release prisoner of conscience Pastor Nguyen Cong Chinh
and end harassment of his family

May 23, 2017

To: President Tran Dai Quang,
Prime Minister Nguyen Xuan Phuc, and
National Assembly Chair Nguyen Thi Kim Ngan
of the Socialist Republic of Vietnam

We, the undersigned organizations and individuals, call on the authorities of the Socialist Republic of Vietnam to: release Pastor Nguyen Cong Chinh unconditionally and immediately; carry out a prompt, impartial, independent and effective investigation into allegations of his mistreatment while in prison and allegations that his wife, Mrs. Tran Thi Hong, was tortured by the local authorities of Hoa Lu Ward, Pleiku City, Gia Lai Province, while in custody in 2016; bring any identified perpetrators to justice in fair trials; and provide reparations to Pastor Chinh and Mrs. Tran Thi Hong in accordance with Vietnam’s obligations under the International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) and the Convention against Torture and Other Cruel, Inhuman or Degrading Treatment or Punishment (CAT).

Lutheran Pastor Nguyen Cong Chinh was sentenced to 11 years of imprisonment in 2012 after having been convicted of “undermining national unity policy” under Article 87 of Vietnam’s Penal Code, “by maintaining ties with the dissident groups and distributing material deemed to have slandered government authorities”. He was arbitrarily detained and jailed solely for peacefully practicing his faith and exercising his human rights to freedom of thought, conscience and religion and freedom of expression. His non-violent activities in criticizing government policies cannot justify his imprisonment and the abusive treatment and denial of his rights by prison authorities. These include verbal and physical abuse from other prisoners in collusion with or without intervention of prison officials, denial of medical treatment, detention in solitary confinement for a prolonged period, and denial of the rights to practice his religion and to buy additional food from the canteen to supplement the poor prison diet. Cumulatively, his alleged treatment in prison would constitute torture or other cruel, inhuman or degrading treatment or punishment as prohibited under the ICCPR, the CAT and the UN Standard Minimum Rules for the Treatment of Prisoners (Nelson Mandela Rules).

Additionally, Pastor Chinh’s family members, including his wife Mrs. Hong Tran, have also been the alleged victims of harassment which may amount to torture or ill-treatment. On 14 April 2016 at the Hoa Lu Ward, Pleiku City, Gia Lai Province, Vietnam, Mrs. Hong alleges that several unidentified men – whom she believes were undercover public security agents – forced her into a vehicle and took her to the People’s Committee Office where she says she was violently assaulted for more than three hours while being asked about her meeting with a US delegation on International Religious Freedom held on 30 March 2016. She also alleges she was the victim of several other violent incidents perpetrated by State authorities in May of the same year while being questioned about her activism.

Under international treaties binding the state, torture and other cruel, inhuman or degrading treatment or punishment is prohibited in all circumstances and torture is a crime under international law. According to the most recent Constitution (2013), the state “acknowledges, respects, protects and guarantees human rights” , guarantees that “the citizen shall enjoy the right to freedom of opinion and speech, freedom of the press, to access to information, to assembly, form associations and hold demonstrations” , whereas Article 24 guarantees “freedom of belief and religion” and the equality of all religions before the law.

As government leaders of the Socialist Republic of Vietnam, you are in the position to take steps to ensure that national laws and Constitutional provisions which comply with Vietnam’s international obligations are properly enforced.

We respectfully urge that your government immediately and unconditionally release Pastor Nguyen Cong Chinh and fully restore his legal rights; carry out prompt, impartial, independent and effective investigations into the allegations of torture and other ill-treatment made by Pastor Chinh and his wife Mrs. Hong and bring any identified perpetrators to justice following fair trials and provide reparations to Pastor Chinh and Mrs. Tran Thi Hong in accordance with Vietnam’s obligations under the ICCPR and CAT; respect international human rights laws and standards generally including the rights to freedom of thought, conscience and religion, speech, peaceful assembly and association in particular.

The community of civil society organizations and human rights advocates in Southeast Asia and around the world continue to monitor closely the situation of Mrs. Tran Thi Hong and Pastor Nguyen Cong Chinh, and we will continue to do so until he is released and the criminal conviction is expunged through appropriate legal processes.

SIGNED:

1. Vietnamese Women for Human Rights (Hội Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam) – VIET NAM
2. Amnesty International – UNITED KINGDOM
3. Anushani Alagarajah, Researcher and Activist – SRI LANKA
4. Aravinth. S, Activist – SRI LANKA
5. Bàn Tròn Đa Tôn Giáo Việt Nam (Vietnam Multi-Faith Roundtable) – VIET NAM
6. Bhawana Bhatta, Women Dialogue Forum – NEPAL
7. Boat People SOS – UNITED STATES OF AMERICA
8. C. Nasser Ahmad – UNITED STATES OF AMERICA
9. Campaign to Abolish Torture in Vietnam – UNITED STATES OF AMERICA
10. Center for Inquiry – UNITED STATES OF AMERICA
11. Chihiro Muranaka – JAPAN
12. Christian Solidarity Worldwide – UNITED KINGDOM
13. Church of Scientology National Affairs Office – WASHINGTON, DC
14. Civil Rights Defenders – SWEDEN
15. Coalition for a Free and Democratic Vietnam – UNITED STATES OF AMERICA
16. Committee for Religious Freedom in Vietnam – UNITED STATES OF AMERICA
17. Con Dau Parishioners Association – VIET NAM
18. Dhruba Basu, Participatory Research in Asia – INDIA
19. Dr. Aurora Parong, Medical Action Group – PHILIPPINES
20. Đinh Đức Long, Hội Hỗ Trợ Nạn Nhân Bạo Hành Việt Nam (Association for Support Victims of Torture) – VIET NAM
21. Freedom House – UNITED STATES OF AMERICA
22. Gerelee Odonchimed – MONGOLIA
23. Greg Mitchell, Co-Chair, International Religious Freedom Roundtable; President, The Mitchell Firm – UNITED STATES OF AMERICA
24. Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo (Vietnamese Political & Religious ​Prisoners Friendship Association) – VIET NAM
25. Hội Phát Huy Tự Do Tôn Giáo hay Niềm Tin Việt Nam (Association to Freedom of Religion or Belief in Vietnam) – VIET NAM
26. Hội Thánh Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên (Central High Montagnard Evangelical Church Of Christ) – VIET NAM
27. International Commission of Jurists – GENEVA, SWITZERLAND
28. International Institute for Religious Freedom – (BONN – BRASILIA – CAPE TOWN ​- COLOMBO)
29. Jinshiro Motoyama – JAPAN
30. Jubilee Campaign USA – UNITED STATES OF AMERICA
31. Khối Nhơn Sanh Đạo Cao Đài (Popular Council of Cao Dai Religion) – VIET NAM
32. Lester Shum – HONG-KONG
33. Liên Minh Chống Tra Tấn (Vietnam – Coalition Against Torture (VN-CAT)) – VIET NAM
34. Montagnard Human Rights Organization – NC, UNITED STATES OF AMERICA
35. Mory Sar, Cambodia Youth Network – CAMBODIA
36. Nguyễn Đan Quế, Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm (Former Vietnamese Prisoners of Conscience) – VIET NAM
37. Nhóm Linh Mục Nguyễn Kim Điền (The Nguyen Kim Dien Priests Group – Linh Mục Phan Văn Lợi) – VIET NAM
38. Nhóm Người Bảo Vệ Nhân quyền (Defend the Defenders) – VIET NAM
39. Norwegian Helsinki Committee – NORWAY
40. Quê Mẹ: Vietnam Committee on Human Rights – FRANCE
41. Quỹ Tù Nhân Lương Tâm Úc Châu (Prisoners Of Conscience Fund) – AUSTRALIA
42. Religious Freedom Institute – UNITED STATES OF AMERICA
43. Shreen Abdul Saroor, Activist – SRI LANKA
44. Shui Meng Ng, Sombath Initiative – LAOS
45. Tanathorn Tananont, Human Rights Lawyer – THAILAND
46. The Russian Orthodox Church of America – UNITED STATES OF AMERICA
47. Việt Thức Foundation – UNITED STATES OF AMERICA
48. Vietnamese Unified Buddhist Sangha – VIET NAM
49. Vũ Quốc Ngữ & Huỳnh Thục Vy, Mạng Lưới Các Tổ Chức Xã Hội Dân Sự Độc Lập Việt Nam – (Vietnamese Independent Civil Society Network (VICSON)) – VIET NAM
50. William Nicholas Gomes, Human Rights Defender and Freelance Journalist – UNITED KINGDOM

 

Đại Diện của Ủy ban Tư do Tôn giáo Quốc tế của Hoa Kỳ gửi thư cho Linh Mục Nguyễn Công Chính và bà Trần Thị Hồng

Ngày 15 tháng 5, 2017

Linh Mục Nguyễn Công Chính
Nhà Tù Xuân Lộc
Tỉnh Đồng Nai, Việt Nam

Bà Trần Thị Hồng
Phường Hoa Lư, Thành Phố Pleiku
Tỉnh Gia Lai, Việt Nam

Kính gởi Linh Mục Chính và Bà Hồng:

Tôi viết thư chô ông bà với tư cách là người Đại Diện của Ủy ban Tư do Tôn giáo Quốc tế của Hoa Kỳ và là một người có thiện chí đang quan ngại đến sự an lành của ông bà. Tôi muốn bày tỏ sự ủng hộ của Ủy Ban và của cá nhân tôi cũng như sự đồng thuận với việc ông bà tiếp tục đấu tranh cho tự do tôn giáo. Hoàn cảnh của ông bà chính trực lôi kéo chú ý của mọi người trên thế giới.

Đây là thời khắc có ý nghĩa để đánh sự đấu tranh của ông bà. Cách đây 12 năm vào tháng này, Hoa Kỳ và Việt Nam đã đạt được một thỏa thuận yêu cầu chính phủ Việt Nam cải thiện các điều kiện tự do tôn giao ở đất nước ông bà. Như ông bà biêt rõ, thật buồn thay: theo sau thỏa thuận này là nhiều hạn chế, hơn là tự do.

Linh Mục Chính, thật đáng thương tâm việc ngài đã bị giam cầm hơn 5 năm trong bản án tù 11 năm thì thật hiển nhiên và hoàn toàn bất công. Tôi biết là các nhà chức trách Việt Nam đang từ chối chữa trị y khoa cần thiết cho ngài vì ngài ở tù vị tội danh “phá hoại đoàn kết quốc gia.” Là một linh mục trong cộng đồng đạo cơ đốc ở Tây Nguyên, chính quyền phải bảo vệ, mà không được trừng phạt, tiếng nói chỉ trích ôn hòa các hạn chế về tự do tôn giáo của ngài.

Thưa bà Hồng, tôi biết là bà cũng bị chính quyền theo dõi và sách nhiễu thường xuyên, kể cả việc cách đây một năm vào tháng này công an Việt Nam đã thô bạo tra hỏi bà, xông vào nhà bà và hành hung con trai bà. Xin bà biết cho là tôi sẽ không bao giờ quên sự ngược đãi đối với gia đình bà.

Bản thân tôi là một người ủng hộ tự do tôn giáo, tôi luôn cảm kích sự kiên trì của ông bà ở những điều kiện tàn nhẫn này. Thưa Linh Mục, chừng nào mà ngài còn ở trong tù, và chừng nào mà nhà chức trách Việt Nam tiếp tục đối xử không công bằng với gia đình ông bà, thì xin ông bà yên tâm là tôi luôn quyết tâm hành động cho ông bà, để cho gia đình ông bà có thể đoàn tụ và ông bà có thể hành đạo tự do, công khai mà không bị đe dọa thêm nữa.

Với sự tôn trọng sâu sắc nhất,

Đại Sứ Jackie Wolcott
________________________________________________________________________________________________________
732 NORTH CAPITOL STREET, NW SUITE A714 | WASHINGTON, DC 20401 | (202) 523-3240 | (202) 523-5020 (FAX)

Thomas J. Reese, Chair • Daniel Mark, Vice Chairman
Kristina Arriaga de Bucholz • Tenzin Dorjee • Sandra Jolley • Clifford D. May • John Ruskay • Jackie Wolcott Erin D. Singshinsuk, Executive Director
www.uscirf.gov

Đại Sứ Jackie Wolcott là Đại Diện của Ủy Ban Tôn Giáo Quốc Tế của Hoa Kỳ (USCIRF), đây một tổ chức chính phủ giám sát quyền tự do tôn giáo phổ quát.

Dự Án Tù Nhân Lương Tâm của USCIRF nêu lên cảnh ngộ của các cá nhân bị bò tù vì niềm tin, thực hành hay xác định tôn giáo của mình. Để biết thêm về dự án này hay phỏng vấn một đại diện, xin liên lạc USCIRF ở 732 NORTH CAPITOL STREET, NW SUITE A714 | WASHINGTON, DC 20401 | (202) 523-3240 | (202) 523-5020 (FAX)

Thomas J. Reese, Chair • Daniel Mark, Vice Chairman
Kristina Arriaga de Bucholz • Tenzin Dorjee • Sandra Jolley • Clifford D. May • John Ruskay • Jackie Wolcott Erin D. Singshinsuk, Executive Director
www.uscirf.gov

Chia Sẻ Một Số Suy Nghĩ Về Trường Hợp Chị Lê Mỹ Hạnh

Sự việc hành hung với chị Lê Mỹ Hạnh cùng bạn bè của chị tại tư gia là vấn đề mà tất cả chúng ta đều phải quan tâm vì đây là một hành vi vi phạm Hiến pháp, Bộ luật hình sự 2015, về quyền con người như đã quy định trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền và Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử  đối với phụ nữ.

Hiến pháp năm 2013 quy định: Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm (điều 20 khoản 1). Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý (điều 22 khoản 2).

Bộ luật hình sự 2015 xác định việc hành hung này  là hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác (điều 134).

Theo Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền thì mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân (điều 3). Những quyền này được quy định rõ ràng như:  Không một người nào phải chịu cực hình, tra tấn, hay bất kỳ hình thức đối xử, hoặc trừng phạt bất nhân, hay có tính cách lăng nhục (điều 5) và không một ai bị xâm phạm một cách độc đoán về đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, hay thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hay tiếng tăm của mình. Mọi người đều có quyền được luật pháp bảo vệ, trước những xâm phạm và xúc phạm như vậy (điều 12).

Theo Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử  đối với phụ nữ (CEDAW), đó là hiệp ước quốc tế về quyền của phụ nữ và các vấn đề của phụ nữ trên toàn thế giới, sự hành hung với chị Lê Mỹ Hạnh là một phụ nữ đã vi phạm nguyên tắc bình đẳng thực chất và không phân biệt đối xử với phụ nữ.

Chính quyền có trách nhiệm dưới hiến pháp là phải bảo đảm an ninh trật tự xã hội và an toàn cho mọi người dân. Chính quyền có trách nhiệm phải thực thi những cam kết với quốc tế trong việc bảo vệ nhân quyền, nhân phẩm và an toàn của người dân như đã quy định trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền và Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử  đối với phụ nữ mà Việt nam là thành viên.

Trên những nguyên tắc này, chính quyền địa phương cần tiến hành thủ tục điều tra và khởi tố những người hành hung chị Lê Mỹ Hạnh.

Việt Nam, một đất nước không có tự do báo chí

Tổ chức Freedom House vừa công bố phúc trình thường niên cho thấy nhà nước Việt Nam nắm quyền kiểm soát toàn bộ báo đài, trấn áp truyền thông mạng và biến đất nước thành một nơi không có tự do báo chí.

Xếp thứ 177/198 quốc gia

Việt Nam đứng thứ 177 trong số 198 quốc gia trên toàn cầu về tự do báo chí, là nhận định của Freedom House trong phúc trình thường niên công bố tại Newseum – Viện Bảo tàng Tin tức ở Washington DC hôm thứ 28/4/2017.

Như thông lệ, sơ đồ tự do báo chí thế giới của Freedom House năm nay vẫn sử dụng màu xanh lục cho nhóm những nước có tự do, màu vàng cho những nước phần nào được tự do và màu tím là những quốc gia không có tự do.

Việt Nam thuộc nhóm màu tím, tức nhóm các nước không có tự do báo chí so với thế giới cũng như trong khu vực.

Riêng về tự do báo chí của 40 nước vùng Châu Á Thái Bình Dương, Việt Nam đứng hàng thứ 37 tức là chỉ hơn được Lào, Trung Quốc và Bắc Hàn; là 3 quốc gia nằm cuối bảng.

Trả lời Đài Á Châu Tự Do, bà Jennifer Dunham, Giám đốc nghiên cứu về tự do báo chí thế giới trong tổ chức Freedom House, khẳng định:

“Việt Nam thuộc nhóm các nước không có tự do báo chí trong phúc trình 2017 của Freedom House, cũng là quốc gia có nền truyền thông tồi tệ nhất trong khu vực cũng như trên thế giới nói chung.

Những điều mà Freedom House quan tâm nhất là sự kiểm soát chặt chẽ  và nghiêm khắc của nhà nước Việt Nam đối với truyền thông. Năm 2016 là năm mà chiến dịch đàn áp báo chí độc lập, báo mạng hay báo online đã diễn ra gay gắt hơn lúc nào hết.

Về phần các bloggers thì Freedom House nhận thấy rất nhiều người bị bắt giữ, nhất là trong thời gian có chuyến viếng thăm Việt Nam của Tổng thống Obama, chính phủ đã tìm mọi cách ngăn chận những tin bài hay những tiếng nói độc lập.

Thực tế không có sự tiến bộ nào trong lãnh vực tự do báo chí ở Việt Nam bao năm qua. Điểm sáng duy nhất và khả quan nhất có thể nhìn thấy được và khiến cho Việt Nam khá hơn Lào một chút là nhờ những bloggers đang cố gắng viết và đưa tin tức đến cho mọi người trong khả năng khách quan và trung thực nhất mà họ có thể”.

Vai trò của truyền thông mạng

Truyền thông mạng và báo chí online từ những tổ chức xã hội dân sự, không nằm dưới quyền chỉ đạo của nhà nước Việt Nam, là những sinh hoạt cần thiết trong bối cảnh một đất nước mà báo giới luôn bị kiểm duyệt như ở Việt Nam, là phát biểu của bà Sarah Repucci, giám đốc về thông tin toàn cầu của Freedom House:

“Điều vô cùng quan trọng là các tổ chức đó phải tiếp tục làm công việc đang làm, tiếp tục viết những gì cần phải viết bằng tất cả khả năng và phương tiện của mình để phổ biến rộng rãi cho mọi người, bởi đối với nhiều người khao khát tin tức thì đó là những nguồn thông tin phản ảnh những quan điểm độc lập và không bị bóp méo.

So với những năm trước thì Freedom House vẫn không thấy sự cải thiện đáng kể trong lãnh vực báo chí đang bị kiểm soát chặt chẽ ở Việt Nam, chí ít là thời gian gần đây cũng không có mấy thay đổi.”

Phúc trình 2017 về tự do báo chí thế giới với tình hình tiêu cực về tự do báo chí ở Việt Nam được Freedom House ở Hoa Kỳ công bố chỉ 2 ngày sau khi có báo cáo hàng năm của Reporteurs Sans Frontieres – Ký giả Không biên giới ở Pháp hôm 26/4, đưa Việt Nam vào danh sách các nước bị bôi đen tức hoàn toàn không có tự do báo chí trong năm 2016.

Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/no-press-freedom-in-vietnam-tt-05012017073743.html

The Economist: Việt Nam và Lào kém dân chủ nhất Đông Nam Á

Đánh giá chỉ số dân chủ năm 2016, tạp chí kinh tế The Economist chấm Việt Nam được 3.21/10 điểm, xếp thứ 131/167 quốc gia và được liệt vào nhóm các quốc gia chuyên chế, độc tài (authoritarian regime) cùng với Triều Tiên, Trung Quốc, Lào và Afghanistan.

Bản đồ chỉ số dân chủ năm 2016. Ảnh: chụp màn hình.

Nhóm nghiên cứu Economist Intelligence Unit (EIU) thuộc tạp chí kinh tế The Economist vừa công bố báo cáo nghiên cứu về chỉ số dân chủ 2016 tại 167 quốc gia trên thế giới.

EIU đã gọi năm 2016 là năm của suy thoái dân chủ trên toàn cầu.

Báo cáo này đánh giá 5 yếu tố theo thang điểm 10, bao gồm: quy trình bầu cử và đa nguyên; các quyền tự do của công dân; hoạt động của nhà nước; sự tham gia chính trị; và văn hóa chính trị. Điểm trung bình của 5 yếu tố này là chỉ số dân chủ của quốc gia đó.

Theo đó, EIU xếp mỗi quốc gia vào một trong 4 nhóm: dân chủ hoàn chỉnh (full democracy); dân chủ chưa hoàn chỉnh (flawed democracy); chế độ lai tạp, đang chuyển đổi dân chủ (hybrid regime) và chế độ chuyên chế, độc tài (authorian regime).

Chỉ số dân chủ Việt Nam kém một cách “ổn định”

So với năm 2015, Việt Nam đã lên được ba bậc và xếp thứ 131 trên 167 quốc gia. Tuy nhiên, điều này không đủ đưa Việt Nam ra khỏi nhóm các quốc gia chuyên chế, độc tài cùng với Trung Quốc, Triều Tiên, Lào và Afghanistan tại châu Á.

Việt Nam xếp thứ 131 với 3.38 điểm. Nguồn: The Ecomonist.

 

Bênh cạnh đó, Việt Nam có cùng điểm chung với Trung Quốc và Triều Tiên khi nhiều năm liền bị đánh giá 0/10 điểm về quy trình bầu cử và đa nguyên chính trị.

Chỉ số này đánh giá quyền lập các đảng phái, tổ chức dân sự; bầu cử được tổ chức tự do và công bằng, ở đó công dân có sự cạnh tranh giữa các đảng phái, cử tri được quyền phổ thông đầu phiếu, tự do lựa chọn ứng cử viên mà không bị đe dọa, cũng như chuyển giao chính quyền ôn hòa sau bầu cử.

Chỉ số dân chủ Việt Nam dậm chân tại chỗ quanh mức 3/10 điểm trong 10 năm, kể từ khi EIU lần đầu tiên công bố chỉ số này năm 2006.

 

 

Chỉ số về hoạt động của nhà nước Việt Nam suy giảm từ năm 2011 xuống còn 3.93 điểm, duy trì đến năm 2015, nhưng đến năm 2016 giảm xuống còn 3.21/10 điểm. Trong một báo cáo khác của Chương trình phát triển Liên hiệp quốc tại Việt Nam (PAPI 2015) cũng cho thấy hiệu quả quản trị và hành chính công ở Việt Nam đang có xu hướng giảm đáng kể.

Trong khi đó, yếu tố văn hóa chính trị của Việt Nam lại có điểm tương đối cao, tăng mạnh qua nhiều năm (6.88/10), nhất là trong thời kỳ 2008 – 2012. Chỉ số này của Việt Nam cao nhất trong khu vực ASEAN và ngang với Myanmar.

EIU cho rằng văn hóa chính trị đóng vai trò quan trọng cho sự chính danh của nhà nước, thực thi chức năng nhà nước hiệu quả và bảo đảm nền dân chủ đứng vững. Dân chủ sẽ không phù hợp với đất nước có văn hóa chính trị thụ động, thờ ơ và ngoan ngoãn. Một đất nước có nền văn hóa chính trị dân chủ là nơi phe thua cuộc chấp nhận kết quả và đồng ý chuyển giao quyền lực cho phe thắng.

Chỉ số về các quyền tự do dân sự và tham gia chính trị có mức tăng nhẹ trong 10 năm. Đặc biệt, các quyền tham gia chính trị bị sụt hẳn gần 1 điểm trong năm 2008, cũng là năm nổ ra biểu tình chống Trung Quốc tại Việt Nam. Đối với hai chỉ số này, Việt Nam có điểm thấp nhất trong các quốc gia ASEAN chỉ đứng trên Lào.

Chỉ số dân chủ tại ASEAN và Châu Á

Indonesia và Philippines có chỉ số dân chủ tưởng đối cao, lần lượt đứng thứ 50 và 48 trên 167 quốc gia. Hai nước này cùng với Malaysia và Singapore được EIU xếp vào nhóm nước dân chủ chưa hoàn chỉnh (flawed democracy).

Myanmar tiến xa hơn Việt Nam sau khi quân đội chuyển giao chính phủ cho đảng đối lập do Aung San Suu Kyi lãnh đạo, trở thành quốc gia có thể chế lai tạp và trên đường chuyển đổi dân chủ (hybrid regime) cùng với Thái Lan và Campuchia. Các chỉ số của Myanmar đều cao hơn Việt Nam, chỉ có hai chỉ số còn lại về văn hóa chính trị và các quyền tự do của công dân là tương đương.

Chỉ số dân chủ của Thái Lan đang có xu hướng suy giảm. Năm 2008, Thái Lan được xếp vào quốc gia có nền dân chủ chưa hoàn chỉnh, đứng đầu ASEAN và xếp hạng 54 thế giới. Sau đó, quốc gia sùng đạo Phật này đã bị tụt gần 50 bậc và trở thành chế độ lai tạp, đang cố gắng khôi phục lại nền dân chủ.

Điều ngạc nhiên khác là Đông Timor, ứng cử viên khao khát gia nhập ASEAN, lại có chỉ số dân chủ cao hơn tất cả các nước ASEAN, ở mức 7,24/10 điểm, hạng 43/167 thế giới, chỉ đứng sau Đài Loan, Ấn Độ.

Trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, nền dân chủ của New Zealand và Australia dẫn đầu và vượt trội so với các quốc gia theo sau, lần lượt là Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và Đài Loan.

Phân loại EIU về 4 loại thế chế

Dân chủ hoàn chỉnh (full democracy): Những quốc gia được gọi là dân chủ không chỉ đảm bảo về các quyền tự do chính trị và dân sự, ví dụ như các quyền tự do hiệp hội, tự do ngôn luận sở hữu mà còn có xu hướng củng cố văn hóa chính trị để giữ cho nền dân chủ đứng vững trước những biến đổi khó lường. Người dân hài lòng về hiệu quả hoạt động của nhà nước. Truyền thông và báo chí độc lập và đa dạng. Có sự phân chia quyền lực trong hệ thống nhà nước với các biện pháp kiểm soát và đối trọng quyền lực (checks and balances). Cơ quan tư pháp độc lập và quyết định tư pháp được thực thi.

Dân chủ chưa hoàn chỉnh (flawed democracy): Những quốc gia này có tiến trình bầu cử tự do và công bằng. Các quyền tự do cơ bản của công dân được tôn trọng. Tuy nhiên, các nước này vẫn còn tồn tại những hạn chế chưa thể giải quyết để đảm bảo nền dân chủ như các vấn đề trong quản trị nhà nước, văn hóa chính trị kém phát triển và mức độ tham gia chính trị thấp.

Thể chế lai tạp, đang trên đường dân chủ hóa (hybrid regime): Các quốc gia này không đảm bảo bầu cử được diễn ra tự do và công bằng. Tồn tại sự cạnh tranh giữa các đảng đối lập và các ứng cử viên đủ khả năng tranh cử. Những điểm yếu nghiêm trọng ở các quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi này là văn hóa chính trị yếu, nhà nước hoạt động thiếu hiệu quả, mức độ tham gia chính trị thấp. Tham nhũng có xu hướng lan rộng và nền pháp quyền yếu kém. Xã hội dân sự kém phát triển. Nhà báo thường bị sách nhiễu và các cơ quan tư pháp không độc lập.

Thể chế chuyên chế, độc tài (authoritarian regime): Sự đa nguyên trong chính trị (ví dụ như đảng phái, các tổ chức dân sự) dường như không có hoặc bị hạn chế nghiêm trọng, nhiều quốc gia trong nhóm này hoàn toàn độc tài. Một vài cơ chế của nền dân chủ có thể tồn tại nhưng bị hạn chế và không có nhiều ý nghĩa. Nếu có tồn tại bầu cử thì cũng không tự do và công bằng. Các quyền tự do của công dân thường xuyên bị lạm dụng và xậm phạm. Truyền thông, báo chí thuộc về nhà nước hoặc bị kiểm soát bởi những nhóm có liên hệ với nhà nước. Người dân bị đàn áp nếu chỉ trích chính quyền, chế độ kiểm duyệt rất gắt gao. Ở các nước này, các cơ quan tư pháp (toà án, công tố) hoàn toàn không độc lập.

Tài liệu tham khảo:

1. Democracy Index 2006 – 2016, Intelligence Unit (The Economist).

2. Báo cáo PAPI 2015, Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc tại Việt Nam.

Nguồn: http://luatkhoa.org/2017/03/economist-viet-nam-va-lao-kem-dan-chu-nhat-dong-nam/

 

Thông Báo: Gây Quỹ Cho Các Hoạt Động Quốc Tế của BPSOS Năm 2017.

  • Mỗi người góp một bàn tay để cứu đồng bào và dân chủ hoá Việt Nam

Ngày 27 tháng 4, 2017

http://machsongmedia.com

Chương trình gây quỹ “Góp Một Bàn Tay” cho các hoạt động quốc tế của BPSOS năm 2017 đã bắt đầu cách đây 2 tuần và sẽ kéo dài đến cuối năm. Buổi gây quỹ kế đến sẽ được tổ chức ngày 28 tháng 4 tại Nhà Hàng Thần Tài ở Falls Church, Virginia.

Số vé nguyên thuỷ cho buổi gây quỹ này đã bán hết cách đây hơn 2 tuần, nhưng chúng tôi đã giữ thêm một số bàn cho những đồng hương muốn “góp một bàn tay” mà chưa kịp mua vé. Đã có nhiều chục người gọi đến văn phòng BPSOS để giữ vé vào những ngày chót. Những quý vị nào muốn giữ vé cho buổi gây quỹ ngày 28 tháng 4 ở Falls Church, xin liên lạc cô Thiên Thơ: 703-538-2190 hoặc thientho.nguyen@bpsos.org.

Đồng thời, chúng tôi đã nhận được gần $15,000 của các quý vị ân nhân ủng hộ ngoài số tiền bán vé. Trong đó có nhiều người muốn đóng góp dù không tham dự được vì ở xa hay bận việc. Chúng tôi xin chân thành tri ân.

Buổi gây quỹ đầu tiên của năm 2017 diễn ra Chủ Nhật 16 tháng 4 ở Raleigh, North Carolina. Đó là ngày nhiều cựu tị nạn ở Thái Lan và Malaysia, phần lớn là các giáo dân Cồn Dầu, đã tụ về thành phố này từ những thành phố và tiểu bang lân cận để mừng Lễ Phục Sinh. Ts. Nguyễn Đình Thắng, Tổng Giám Đốc kiêm Chủ Tịch BPSOS, cũng đã có mặt. Khoảng 20 gia đình giáo dân Cồn Dầu cam kết đóng góp mỗi gia đình ít nhất 1 Mỹ kim mỗi ngày để giúp cho BPSOS duy trì văn phòng pháp lý ở Thái Lan, cũng như để yểm trợ chiến dịch Cứu Đông Yên mà BPSOS khởi xướng cuối năm ngoái, và giúp phương tiện cho các đồng hương ở Cồn Dầu tiếp tục tranh đấu để bảo tồn giáo xứ.

Các buổi gây quỹ kế trong năm 2017 đến sẽ được thực hiện ở:

  • Oklahoma City – ngày 24 tháng 06
  • Orange County – ngày 22 tháng 07
  • San Jose – ngày 23 tháng 07
  • Houston – ngày 16 tháng 09
  • Atlanta – ngày 28 tháng 10

Các nhóm thân hữu của BPSOS ở nhiều thành phố đang chuẩn bị buổi gây quỹ nhưng chưa ấn định ngày tháng: Dallas-Fort Worth,  Detroit, Kansas City, Milwaukee, Minneapolis, Kansas City, San Antonio, Seattle, Edmonton (Canada)…

Quý vị đồng hương vì ở xa hay bận việc nên không thể đến dự các buổi gây quỹ này vẫn có thể yểm trợ các hoạt động quốc tế của BPSOS bằng cách gửi ngân phiếu về cho:

BPSOS/CSD
PO Box 8065
Falls Church VA 22041 USA

hoặc đóng góp qua trang mạng: https://www.bpsos.org.

Các hoạt động quốc tế của BPSOS bao gồm bảo vệ pháp lý cho khoảng một nghìn đồng bào đang xin tị nạn ở Thái Lan, giải cứu các nạn nhân bị buôn lao động hay tình dục, hỗ trợ các nhà tranh đấu nhân quyền bị lâm nguy hay tù đày, và phát triển nội lực cho các cộng đồng tôn giáo và bản địa cũng như một số tổ chức xã hội dân sự.  Tất cả các hoạt động này thuộc kế hoạch 10 năm dân chủ hoá Việt Nam mà BPSOS đề xướng năm 2010 và bắt đầu thực hiện năm 2011.

Nguồn: http://www.machsongmedia.com/vietnam/nhanquyen/1212-2017-04-27-16-59-05.html