Human Rights

Thông Báo: Gây Quỹ Cho Các Hoạt Động Quốc Tế của BPSOS Năm 2017.

  • Mỗi người góp một bàn tay để cứu đồng bào và dân chủ hoá Việt Nam

Ngày 27 tháng 4, 2017

http://machsongmedia.com

Chương trình gây quỹ “Góp Một Bàn Tay” cho các hoạt động quốc tế của BPSOS năm 2017 đã bắt đầu cách đây 2 tuần và sẽ kéo dài đến cuối năm. Buổi gây quỹ kế đến sẽ được tổ chức ngày 28 tháng 4 tại Nhà Hàng Thần Tài ở Falls Church, Virginia.

Số vé nguyên thuỷ cho buổi gây quỹ này đã bán hết cách đây hơn 2 tuần, nhưng chúng tôi đã giữ thêm một số bàn cho những đồng hương muốn “góp một bàn tay” mà chưa kịp mua vé. Đã có nhiều chục người gọi đến văn phòng BPSOS để giữ vé vào những ngày chót. Những quý vị nào muốn giữ vé cho buổi gây quỹ ngày 28 tháng 4 ở Falls Church, xin liên lạc cô Thiên Thơ: 703-538-2190 hoặc thientho.nguyen@bpsos.org.

Đồng thời, chúng tôi đã nhận được gần $15,000 của các quý vị ân nhân ủng hộ ngoài số tiền bán vé. Trong đó có nhiều người muốn đóng góp dù không tham dự được vì ở xa hay bận việc. Chúng tôi xin chân thành tri ân.

Buổi gây quỹ đầu tiên của năm 2017 diễn ra Chủ Nhật 16 tháng 4 ở Raleigh, North Carolina. Đó là ngày nhiều cựu tị nạn ở Thái Lan và Malaysia, phần lớn là các giáo dân Cồn Dầu, đã tụ về thành phố này từ những thành phố và tiểu bang lân cận để mừng Lễ Phục Sinh. Ts. Nguyễn Đình Thắng, Tổng Giám Đốc kiêm Chủ Tịch BPSOS, cũng đã có mặt. Khoảng 20 gia đình giáo dân Cồn Dầu cam kết đóng góp mỗi gia đình ít nhất 1 Mỹ kim mỗi ngày để giúp cho BPSOS duy trì văn phòng pháp lý ở Thái Lan, cũng như để yểm trợ chiến dịch Cứu Đông Yên mà BPSOS khởi xướng cuối năm ngoái, và giúp phương tiện cho các đồng hương ở Cồn Dầu tiếp tục tranh đấu để bảo tồn giáo xứ.

Các buổi gây quỹ kế trong năm 2017 đến sẽ được thực hiện ở:

  • Oklahoma City – ngày 24 tháng 06
  • Orange County – ngày 22 tháng 07
  • San Jose – ngày 23 tháng 07
  • Houston – ngày 16 tháng 09
  • Atlanta – ngày 28 tháng 10

Các nhóm thân hữu của BPSOS ở nhiều thành phố đang chuẩn bị buổi gây quỹ nhưng chưa ấn định ngày tháng: Dallas-Fort Worth,  Detroit, Kansas City, Milwaukee, Minneapolis, Kansas City, San Antonio, Seattle, Edmonton (Canada)…

Quý vị đồng hương vì ở xa hay bận việc nên không thể đến dự các buổi gây quỹ này vẫn có thể yểm trợ các hoạt động quốc tế của BPSOS bằng cách gửi ngân phiếu về cho:

BPSOS/CSD
PO Box 8065
Falls Church VA 22041 USA

hoặc đóng góp qua trang mạng: https://www.bpsos.org.

Các hoạt động quốc tế của BPSOS bao gồm bảo vệ pháp lý cho khoảng một nghìn đồng bào đang xin tị nạn ở Thái Lan, giải cứu các nạn nhân bị buôn lao động hay tình dục, hỗ trợ các nhà tranh đấu nhân quyền bị lâm nguy hay tù đày, và phát triển nội lực cho các cộng đồng tôn giáo và bản địa cũng như một số tổ chức xã hội dân sự.  Tất cả các hoạt động này thuộc kế hoạch 10 năm dân chủ hoá Việt Nam mà BPSOS đề xướng năm 2010 và bắt đầu thực hiện năm 2011.

Nguồn: http://www.machsongmedia.com/vietnam/nhanquyen/1212-2017-04-27-16-59-05.html

Người nhà nên làm gì khi biết trẻ bị xâm hại tình dục?

Dưới đây là những lời khuyên của tổ chức Parents Protect (Anh quốc) đối với các bậc cha mẹ và người thân có trẻ bị xâm hại tình dục.

CÁCH BẠN PHẢN ỨNG VỚI TRẺ LÀ CỰC KỲ QUAN TRỌNG

3/4 số trẻ bị xâm hại tình dục không nói cho bất kỳ ai và nhiều người trong số họ giữ bí mật đó cho tới tận lúc nhắm mắt xuôi tay. Những kẻ xâm hại tình dục nhiều khả năng là người chúng ta biết, thậm chí có thể là người chúng ta quý mến.

8/10 đứa trẻ bị xâm hại tình dục biết thủ phạm là ai. Đó là người trong gia đình, bạn bè, hàng xóm, người trông trẻ – nhiều người giữ những vị trí cao trong xã hội. Mối quan hệ giữa thủ phạm và nạn nhân càng gần gũi thì họ càng ít nói về điều đó.

Trẻ em thường tìm cách cho chúng ta thấy điều đang làm nó lo lắng và sợ hãi hơn là nói cho chúng ta biết. Vậy nên hãy để ý đến những dấu hiệu đó. Tuy nhiên, trẻ cũng có thể đưa ra vài gợi ý mơ hồ rằng có điều gì đó không ổn đang diễn ra. Thông tin trẻ đưa ra có thể không được rõ ràng, hoặc trẻ có thể không đủ vốn từ vựng để giải thích được điều gì đang xảy ra với chúng. Cách người lớn phản ứng với trẻ là cực kỳ quan trọng.

Phản ứng với trẻ kịp thời với lòng yêu thương

Nếu bạn thấy trẻ đang cố nói cho bạn biết hoàn cảnh của nó, hãy đáp lại một cách nhanh chóng với tất cả sự thương yêu và săn sóc của mình.

Hãy đặt trọn niềm tin vào đứa trẻ

Khi một đứa trẻ tin bạn đến mức kể cho bạn về việc nó bị xâm hại tình dục, bạn hãy luôn nhớ rằng rất hiếm khi chúng nói dối. Mặc dù thật khó để tin rằng một người bạn tin tưởng lại có thể xâm hại đứa trẻ, khả năng trẻ vu khống về hành vi tình dục của người lớn là rất ít.

Áp lực khiến cho trẻ giấu diếm chuyện bị lạm dụng tình dục là rất lớn. Phải cực kỳ can đảm thì trẻ mới chịu nói. Việc trẻ chối hay rút lại lời đã nói cũng khá phổ biến. Đôi khi, cách trẻ đánh giá về sự việc có thể thay đổi theo thời gian. Điều này là bình thường và không nên là lý do khiến bạn không tin lời trẻ nữa.

Luôn ủng hộ trẻ

Bạn phải cho trẻ thấy là bạn luôn luôn ủng hộ chúng. Đừng bao giờ làm ngơ với những gì chúng nói.

Hãy bình tĩnh

Nếu trẻ nói với bạn về chuyện bị xâm hại tình dục, đừng nổi nóng. Hãy giữ bình tĩnh và vững vàng. Nếu bạn nổi nóng, trẻ có thể nghĩ là bạn sẽ phạt chúng – bạn vô tình phản ứng đúng như những gì kẻ thủ ác mong muốn.

Luôn săn sóc trẻ

Luôn làm cho trẻ biết rằng bạn yêu chúng và chúng không làm gì sai cả. Luôn nói với trẻ như vậy. Trẻ sẽ muốn thấy rằng người lớn tin chúng và sẽ làm mọi thứ để bảo vệ chúng. Hãy chắc chắn là trẻ biết rằng việc chúng nói với bạn là hoàn toàn đúng đắn và bạn rất vui vì trẻ đã tìm đến nói với bạn.

Đối mặt với thực tế

Khi biết được sự việc, người lớn phải đối mặt với nó và bảo vệ đứa trẻ bằng mọi giá.

Làm tất cả những gì có thể để tránh cho trẻ khỏi những mối nguy hại khác.

Nhờ giúp đỡ

Liên hệ với chuyên gia để nhờ họ chỉ cho bạn cách bảo đảm an toàn và hàn gắn vết thương này. Bạn cũng cần sự trợ giúp của cảnh sát để bảo vệ trẻ và đưa thủ phạm ra ánh sáng.

Đừng tuyệt vọng và buông xuôi

Trẻ có thể phục hồi được sau khi bị xâm hại tình dục. Rất đau đớn khi biết người bạn yêu thương bị xâm hại, nhưng việc trẻ phục hồi là hoàn toàn có thể.

TRẺ CÓ THỂ CẢM THẤY NHƯ THẾ NÀO?

Sợ hãi

Sợ kẻ xâm hại sẽ làm hại mình hoặc người thân.

Sợ rằng sẽ không có ai tin chúng.

Lo lắng về những gì sẽ xảy ra tiếp theo.

Hoang mang và giằng xé.

Không chắc chắn có thể tin được ai.

Cảm thấy muốn bảo vệ và/hoặc thương người đã xâm hại mình.

Hối tiếc vì đã nói ra chuyện này (và có thể rút lại lời đã nói).

Tội lỗi và xấu hổ

Tin rằng bản thân phải chịu trách nhiệm cho việc bị xâm hại.

Cảm thấy tội lỗi vì đã kể ra và làm gia đình đau khổ.

Cảm thấy xấu hổ nếu có khoái cảm sinh lý khi bị xâm hại.

Hy vọng và thanh thản

Cảm thấy nhẹ nhõm khi trút được gánh nặng giữ bí mật.

Cảm thấy hy vọng rằng việc xâm hại sẽ chấm dứt từ đây.

TRƯỜNG HỢP VIỆC XÂM HẠI XẢY RA TRONG GIA ĐÌNH

Nhờ người ngoài giúp đỡ

Nếu đứa trẻ bị người trong gia đình xâm hại, mỗi người trong gia đình đều sẽ cảm thấy bị ảnh hưởng. Thông thường, gia đình sẽ cần người ngoài trợ giúp để vượt qua được những cảm xúc này và để hướng dẫn họ cách hàn gắn vết thương gia đình.

Những cảm xúc mâu thuẫn

Khi sự việc xảy ra trong nội bộ gia đình, nỗi đau chúng ta phải trải qua có thể là những cảm xúc vừa hoang mang, vừa giằng xé. Bạn có thể cảm thấy đau khổ tột cùng về những gì xảy ra với đứa trẻ, vừa vẫn thương yêu và lo lắng cho thủ phạm.

CHA MẸ VÀ NGƯỜI THÂN CÓ THỂ CẢM THẤY NHƯ THẾ NÀO?

Tức giận

Lên cơn thịnh nộ với kẻ đã hãm hại đứa trẻ, kẻ phản bội lại sự tin tưởng của bạn và lừa dối bạn.

Nổi nóng với trẻ vì nó đã không nói cho bạn sớm hơn.

Tội lỗi

Cảm thấy tội lỗi vì đã không trông chừng để bảo vệ trẻ đúng lúc (ngay cả khi bạn biết rằng kẻ xâm hại đã làm việc này một cách hết sức kín kẽ).

Cảm thấy tội lỗi vì đã trót yêu thương và quan tâm tới kẻ xâm hại đứa trẻ.

Sợ hãi

Sợ hãi về chuyện việc này sẽ ảnh hưởng thế nào tới đứa trẻ.

Sợ hãi về tương lai của gia đình và hậu quả xảy ra với kẻ xâm hại.

Mất mát và cô độc

Đau lòng vì đã vĩnh viễn mất cuộc sống ta từng có.

Cảm thấy cực kỳ cô độc.

TIẾP CẬN THỦ PHẠM

Nếu bạn không muốn ai khác trợ giúp, bạn có thể cân nhắc tiếp cận trực tiếp với người mà bạn nghi là kẻ xâm hại. Khi đó, bạn cần phải nhớ mấy điều sau:

Đừng vội quy kết hay đối đầu với họ. Làm như vậy sẽ giúp giảm khả năng người đó tự vệ và phản ứng ngược lại.

Đi vào vấn đề cụ thể và nói rõ phản ứng của bạn cho họ.

Hỏi những câu đơn giản và thẳng thắn.

Cho người đó biết là họ có thể được giúp đỡ nếu cần, ai cũng có thể làm lại cuộc đời, trước hết bằng cách chịu trách nhiệm với những tai ương mình gây ra, trả giá cho nó, và cam kết thay đổi.

Nếu bạn quan tâm đến họ, hãy cho họ biết điều đó. Tình thương là một yếu tố quan trọng khiến cho thủ phạm thú nhận và chịu trách nhiệm với việc làm của mình.

Có thể bạn sẽ phải nói chuyện với họ nhiều lần.

KHI SỰ VIỆC VỠ LỠ, THỦ PHẠM CÓ THỂ CẢM THẤY THẾ NÀO?

Tức giận

Tức giận vì đứa trẻ đã nói ra chuyện này.

Xấu hổ và ăn năn

Cảm thấy cực kỳ căm ghét bản thân, có thể muốn huỷ hoại bản thân.

Ăn năn vì việc đã làm.

Sợ hãi

Sợ hậu quả pháp lý.

Sợ mất gia đình và người thân, mất nhà, mất danh dự, uy tín và việc làm.

Sợ cái nhìn khinh thường của mọi người.

Nếu người xâm hại cũng là trẻ nhỏ hoặc trẻ mới lớn, chúng sẽ sợ bị mang ra khỏi nhà hoặc mất bạn bè.

Khước từ

Cảm thấy có động cơ để khước từ và biện minh cho việc làm của mình.

Nhẹ nhõm và hy vọng

Cảm thấy nhẹ nhõm vì trút được gánh nặng phải giữ bí mật.

Hy vọng rằng sẽ được giúp đỡ vượt qua vấn đề mà họ đã phải âm thầm chịu đựng bấy lâu nay.

***

Biết trẻ bị xâm hại tình dục là một thời điểm đau đớn trong đời. Nhờ cậy người khác giúp đỡ là việc quan trọng để giúp bạn đối phó với những cảm xúc, thách thức và đưa ra được những quyết định đúng đắn.

Trong bối cảnh riêng của Việt Nam, chúng tôi khuyến nghị bạn đọc cân nhắc việc âm thầm thu thập chứng cứ về vụ việc trước khi loan báo thông tin ra ngoài.Khi vụ việc đã vỡ lở, thủ phạm và những bên liên quan (có thể bao gồm cả cơ quan nhà nước) nhiều khả năng sẽ tìm cách che giấu, lấp liếm hành vi phạm tội. Họ có thể tiêu huỷ mọi bằng chứng, dấu vết có thể có. Khi đó, việc chứng minh tội phạm sẽ khó khăn hơn rất nhiều.

Khi vụ việc chưa vỡ lở, thủ phạm có thể yên tâm và mất cảnh giác. Đó là thời điểm thích hợp để bạn đưa trẻ đi xét nghiệm vết thương, truy tìm các dấu vết tinh trùng, dấu vân tay, sợi lông, tóc của thủ phạm trên cơ thể, quần áo và đồ đạc của trẻ. Việc trưng cầu giám định tâm lý của trẻ cũng nên được tiến hành. Bạn cũng có thể bí mật tìm cách lấy được dữ liệu camera an ninh trước khi thủ phạm kịp xoá, hay bí mật ghi âm lời nói của thủ phạm. Việc bí mật theo dõi người mà bạn cho là thủ phạm có thể giúp bạn thu thập được nhiều thông tin có ích cho việc tố cáo sau này.

Tất cả những động tác đó sẽ giúp vụ án được xúc tiến nhanh hơn, thay vì chỉ dựa trên lời nói và biểu hiện tâm lý của trẻ.

Nguồn: http://luatkhoa.org/2017/03/nguoi-nha-nen-lam-gi-khi-biet-tre-bi-xam-hai-tinh-duc/

7 nền dân chủ mới trong “làn sóng dân chủ hóa thứ ba” ở Đông Á

Trong lịch sử nhân loại, tiến trình dân chủ hóa đã phải trải qua nhiều giai đoạn. Giai đoạn gần đây nhất được gọi là làn sóng dân chủ hóa thứ ba (1974–2000). Nó bắt đầu từ Nam Âu, sau đó lan sang Mỹ Latin, châu Phi, và rồi đến Đông Á.  Đối với Đông Á, làn sóng này đã mang lại cho khu vực 7 nền dân chủ mới, đó là Philippines, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Mông Cổ, Campuchia, và Indonesia.

Philippines

Phillipines bắt đầu chuyển đổi sang nền dân chủ vào cuối thời kỳ cai trị độc tài của tổng thống Ferdinand Marcos.

Marcos nắm quyền trong suốt hơn hai thập kỷ, kể từ năm 1965 đến năm 1986. Trong giai đoạn này, ông đã thay thế bản hiến pháp dân chủ của Philipines, nhằm cho phép chính ông có thể tiếp tục đảm nhiệm chức vụ tổng thống mà không bị giới hạn về nhiệm kỳ.

Marcos áp đặt việc thiết quân luật để củng cố quyền lực và cho phép các cơ quan an ninh quốc gia tra tấn và giết chết hơn 30.000 người. Thậm chí, vào năm 1983, chính phủ này đã sát hại Thượng nghị sĩ Benigno Aquino, một nhân vật đối đầu mạnh mẽ.

Trong thời gian nắm quyền, tổng thống Marcos giao các chức vụ quan trọng trong chính phủ cho vợ, con, và giới thân hữu. Phe cánh của ông đã tham nhũng một cách có hệ thống. Trong suốt nhiệm kỳ, nguồn thu nhập hợp pháp của Marcos chỉ là khoản lương không quá 5.700 đô-la Mỹ mỗi năm, nhưng khi ông rời đất nước vào năm 1986, tài sản cá nhân của ông ước tính lên tới hơn 5 tỷ đô-la Mỹ.

Tình trạng tham nhũng tràn lan ngày càng gia tăng và bạo lực chính trị ở khắp nơi đã khiến người dân chán ghét chính quyền Marcos, kể cả những người từng ủng hộ ông. Vào tháng 2/1986, Marcos cạnh tranh với Corazon Aquino trong cuộc chạy đua cho nhiệm kỳ thứ tư, và rồi ông đã tự tuyên bố mình là người chiến thắng trong cuộc bầu cử đầy gian lận.

Tuy nhiên sau đó, vào ngày Marcos tuyên thệ nhậm chức, cuộc “Cách mạng Quyền lực Nhân dân” đã nổ ra với sự tham gia của 500.000 người dân cũng như một số nhà lãnh đạo tôn giáo, chính trị và quân sự. Trước cuộc nổi dậy mạnh mẽ này, Marcos đã phải bỏ chạy khỏi đất nước, chấm dứt thời kỳ cai trị độc tài. Corazon Acquino, lãnh đạo của phong trào đối lập, đã trở thành vị tổng thống đầu tiên trong làn sóng dân chủ hóa thứ ba ở khu vực Đông Á.

Cách mạng EDSA lật đổ chế độ độc tài Marcos. Nguồn ảnh: Green Left Weekly.

Hàn Quốc

Sau Philippines, làn sóng dân chủ hóa thứ ba đã lan sang Hàn Quốc. Tại đất nước này, tiến trình dân chủ hóa đã diễn ra ôn hòa hơn, thông qua một cuộc đối thoại.

Trong gần hai thập niên kể từ năm 1961, tướng Park Chung Hee đã cai trị đất nước một cách tàn bạo. Ông bị Giám đốc Cục Tình báo Trung ương Hàn Quốc ám sát vào ngày 26/10/1979. Chưa đến hai tháng sau khi Park bị ám sát, tướng Chun Doo Hwan đã lên nắm quyền thông qua một cuộc đảo chính khác, và tiến hành đàn áp các phong trào dân chủ.

Vào ngày 17/5/1980, Chun mở rộng việc thiết quân luật trên toàn quốc và giải tán Quốc hội. Sau đó, vào ngày 18/5, ông phái quân đội đi đàn áp các cuộc biểu tình ngày càng gia tăng ở Kwangju nhằm chống lại việc thiết quân luật. Trong lần đàn áp này quân đội đã giết chết 207 người và làm bị thương 987 người. Sự kiện này chính là biểu tượng của chủ nghĩa chuyên chế ở Hàn Quốc, và ngày này trở thành ngày lễ tưởng nhớ những nạn nhân của vụ thảm sát Kwangju.

Sau đó, các cuộc biểu tình trên đường phố, thường được gọi là “cuộc nổi dậy tháng 6”, đã liên tục thu hút nhiều người tham gia, đến nỗi áp đảo lực lượng cảnh sát. Chính quyền Chun phải đối mặt trước một lựa chọn đau đớn. Liệu có nên đưa quân đội đàn áp những cuộc biểu tình khi mà chỉ vài tháng nữa là tới Thế vận hội mùa hè? Hay chấp nhận bầu cử tổng thống trực tiếp theo như yêu cầu của các lực lượng chống chính phủ?

Sau 17 ngày liên tục diễn ra các cuộc biểu tình, và dưới áp lực của Mỹ và Uỷ ban Thế vận hội Quốc tế, chính phủ Hàn Quốc đã đồng ý cải cách dân chủ. Thỏa thuận này được mệnh danh là “Tuyên bố Cải cách Dân chủ ngày 29/6”, và người ta coi nó là nền tảng cho quá trình dân chủ hóa một cách hòa bình của Hàn Quốc. Đây chính là một mô hình chuyển đổi dân chủ ôn hòa đáng học hỏi cho các nước Đông Á khác.

Đài Loan

Đài Loan đã trở thành một nền dân chủ tiếp theo trong Làn sóng thứ ba, sau 5 năm được tự do hóa dần dần dưới thời Tưởng Kinh Quốc, lãnh đạo Quốc Dân Đảng.

Kể từ khi Đài Loan tách khỏi Trung Quốc vào năm 1949, Quốc Dân Đảng đã cai trị hòn đảo này theo mô hình một quốc gia độc đảng trong điều kiện thiết quân luật. Trong gần bốn thập niên, các đảng đối lập bị cấm hoạt động, còn các nhà bất đồng chính kiến ​​không được phép tranh cử trong các cuộc bầu cử quốc gia. Tuy nhiên, từ năm 1980, phong trào phản đối thiết quân luật đã dần trở nên mạnh mẽ, nhất là sau cuộc Cách mạng Quyền lực Nhân dân ở Philippines.

Tháng 9/1986, phong trào này thành lập Đảng Dân chủ Tiến bộ DPP (một cách bất hợp pháp), nhằm chống lại Quốc Dân Đảng. Đây chính là đảng đối lập đầu tiên ở Đài Loan. Vào ngày 12/6/1987, DPP đã tổ chức một cuộc biểu tình trước tòa nhà Quốc hội nhằm phản đối Luật An ninh Quốc gia. Nhận thấy những hậu quả không thể kiểm soát được của các cuộc biểu tình ngày càng tăng, đồng thời chịu sức ép ngày càng lớn của Quốc hội Mỹ về việc xây dựng một khuôn khổ cho nền dân chủ, Tổng thống Tưởng Kinh Quốc đã dỡ bỏ lệnh thiết quân luật vào ngày 14/7/1987.

Bước ngoặt cải cách này đã giúp người Đài Loan có thể chính thức tham gia biểu tình chống lại chính phủ Quốc Dân Đảng. Nhiều đảng chính trị mới, như Đảng Trung Quốc Mới và Đảng Đài Loan Độc lập, cũng đã thành lập và đòi hỏi nhà cầm quyền phải chấm dứt chế độ độc đảng. Các đảng này yêu cầu tự do hoá chính trị, thách thức Quốc Dân Đảng trong mọi lĩnh vực chính sách quan trọng, và phản đối mối quan hệ gần gũi của Đài Loan với Trung Quốc đại lục.

Cuối cùng, Quốc Dân Đảng và các lực lượng đối lập đã đồng ý với một loạt yêu cầu sửa đổi hiến pháp, tiến tới tổ chức cuộc bầu cử quốc hội trên toàn quốc một cách tự do, công bằng và cạnh tranh vào năm 1992, và cuộc bầu cử tổng thống và phó tổng thống bằng cách bỏ phiếu trực tiếp vào năm 1996.

So với cách chuyển đổi sang nền dân chủ của Hàn Quốc, thì tiến trình chuyển đổi của Đài Loan diễn ra dần dần, và các nhà lãnh đạo đảng cầm quyền đóng vai trò quan trọng hơn.

Thái Lan

Con đường dân chủ hóa của Thái Lan cũng phần nào tương tự với Hàn Quốc, ở chỗ đất nước này nằm dưới sự cai trị của quân đội trong nhiều thập kỷ trước khi tiến hành dân chủ hóa.

Vào năm 1932, một cuộc đảo chính đã diễn ra, thay thế chế độ quân chủ chuyên chế bằng một chế độ quân chủ lập hiến, trong đó quân đội thường xuyên nắm quyền cai trị. Năm 1986, Tướng Prem, người từng là lãnh đạo quân đội, đã bắt đầu tự do hóa hệ thống chính trị bằng cách cho phép các nhóm xã hội dân sự và các nhóm đối lập hình thành. Năm 1988, đất nước tiến hành các cuộc bầu cử quốc hội một cách dân chủ, đồng thời thành lập một chính phủ liên hiệp dưới quyền Tướng Chatichai Choonhaven.

Dưới thời Choonhaven, nền kinh tế bùng nổ mạnh mẽ. Tuy vậy, vào năm 1991, ông bị bắt trong một cuộc đảo chính quân sự với cáo buộc tham nhũng và thiếu năng lực. Chính quyền quân sự mới do Tướng Sunthordn và Suchinda lãnh đạo đã tiến hành các biện pháp tàn bạo nhằm hủy bỏ những cải cách tự do hóa chính trị của tướng Prem và tướng Choonhavan. Điều này đã gây ra những cuộc biểu tình khổng lồ trên đường phố. Tuy bị đàn áp bằng bạo lực, song công chúng vẫn tiếp tục biểu tình.

Sau ba tuần xung đột, vào tháng 5/1992, chính quyền quân sự và các lực lượng chống đối đã ký một thỏa thuận trong đó có điều khoản sửa đổi hiến pháp để giảm thiểu vai trò của quân đội trong chính trị. Họ cũng chấp nhận rằng thủ tướng phải do các thành viên quốc hội bầu ra, thay vì để quân đội lựa chọn như trước đó. “Hiến pháp Nhân dân” năm 1997 là bản hiến pháp dân chủ nhất của khu vực Đông Á, qua đó Thái Lan đã tạo được ba thiết chế dân chủ mới và đưa ra quy định bầu cử Thượng viện trực tiếp.

Tuy nhiên, vào năm 2006, quân đội đã tổ chức một cuộc đảo chính khác để lật đổ chính phủ của Thaksin, bất chấp việc ông được bầu ra một cách dân chủ, với cáo buộc về tình trạng tham nhũng trong chính quyền của ông.

Phe áo đỏ – những người ủng hộ Thủ tướng Thaksin – biểu tình trên đường phố Bangkok, năm 2010. Nguồn ảnh: Harvard International Review.

Mông Cổ

Mông Cổ bắt đầu chuyển đổi sang nền dân chủ khi Liên Xô sụp đổ.

Vào đầu năm 1989, các nhóm dân sự (chủ yếu là các thành viên của tầng lớp trung lưu) bắt đầu yêu cầu cải cách dân chủ, đồng thời họ tự thành lập các đảng đối lập như Liên minh Dân chủ Mông Cổ. Đáp lại, những người có chủ trương mềm mỏng trong Đảng Cách mạng Nhân dân Mông Cổ (MPRD) đã tiến hành các cuộc đàm phán kéo dài với lực lượng đối lập, tiến tới thông qua các cải cách dân chủ và soạn thảo một bản hiến pháp dân chủ mới.

Tháng 7/1990, Mông Cổ lần đầu tổ chức một cuộc bầu cử quốc hội tự do và công bằng. Vào tháng 7/2003, quốc gia này tổ chức bầu cử theo hiến pháp mới, một bản hiến pháp đảm bảo các quyền chính trị và tự do dân sự. Đến nay, không kể Đông Âu, thì Mông Cổ là nước duy nhất đã có thể chuyển đổi thành công từ chế độ cộng sản sang chế độ dân chủ đa đảng cạnh tranh.

Campuchia

Giống như Mông Cổ, Campuchia cũng bắt đầu chuyển đổi sang nền dân chủ từ chế độ Cộng sản độc đảng.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi này lại đến từ sự can thiệp của cộng đồng quốc tế. Bị tàn phá bởi những cuộc xung đột với Việt Nam, Campuchia phải viện đến sự hỗ trợ từ bên ngoài. Vào tháng 10/1991, bốn nhóm đối địch (Khmer Đỏ, Hoàng gia Funcinpac, đảng CCP của Hun Sen thân Việt Nam và một phe tư sản cộng hòa rất nhỏ) cùng với 18 quốc gia đã ký hiệp ước Paris, bắt đầu quá trình chuyển đổi. Mục tiêu của hiệp ước này là làm cho Campuchia trở thành một quốc gia dân chủ có chủ quyền thực sự, đồng thời hạn chế ảnh hưởng của Việt Nam lên nền chính trị trong nước.

Như vậy, nền dân chủ này không xuất phát từ một phong trào mạnh mẽ của tầng lớp trung lưu. Từ những thỏa thuận giữa các lực lượng ủng hộ chế độ quân chủ và các lực lượng ủng hộ Hun Sen, các cuộc bầu cử quốc hội hồi năm 1993 đã tạo ra một nền dân chủ đa đảng song lại rất bất ổn.

Tuy nhiên, vào năm 1997, một cuộc đảo chính đẫm máu và tàn bạo đã xảy ra nhằm khôi phục quyền lực độc tài của Hun Sen. Trong số những nền dân chủ mới nổi ở châu Á, Campuchia là quốc gia độc nhất tiến hành dân chủ hóa nhờ vào sự can dự trực tiếp của Liên Hợp Quốc để tạo ra một bản hiến pháp dân chủ và các cuộc bầu cử tự do.

Indonesia

Gần đây nhất, Indonesia đã chuyển đổi sang nền dân chủ khi chế độ độc tài dân sự sụp đổ.

Quá trình chuyển đổi của Indonesia bắt đầu từ tháng 8/1998. Điều này chủ yếu là do tình trạng suy sụp kinh tế kéo dài, dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á xảy ra vào cuối năm 1997. Sự thiếu hụt thực phẩm và thuốc men đã khiến sinh viên đại học và nhiều người dân đứng lên biểu tình chống lại Tổng thống Suharto, người đã nắm quyền cai trị đất nước trong hơn 30 năm kể từ năm 1967.

Vào ngày 21/5/1998, khi đối mặt trước áp lực ngày càng tăng của những cuộc biểu tình, Suharto đã trao quyền cho Phó Tổng thống Habibie, một người trung thành cũng thuộc đảng Golkar. Suốt nhiều tháng sau đó, đảng Golkar đã đàm phán với các đảng đối lập và quân đội để cho ra một bản hiến pháp dân chủ mới, đồng thời tiến tới tổ chức các cuộc bầu cử tự do, công bằng và cạnh tranh.

Như vậy, Indonesia đã chuyển sang nền dân chủ, với cuộc bầu cử quốc hội dân chủ đầu tiên vào năm 1999 và cuộc bầu cử tổng thống vào năm 2004, qua đó hình thành nền dân chủ Hồi Giáo lớn nhất trên thế giới.

Lời kết

Ngày nay, hơn ba thập niên sau khi làn sóng dân chủ hóa bắt đầu lan rộng từ Nam Âu, gần một nửa các quốc gia Đông Á vẫn chưa chuyển sang chế độ dân chủ.

Hơn nữa, hai trong số các nền dân chủ trong làn sóng thứ ba (Campuchia và Thái Lan) đã bị đảo ngược, quay trở lại nền cai trị độc tài. Philippines cũng không còn được coi là một chế độ dân chủ vì các vụ giết người mang mục đích chính trị nhắm vào các nhà hoạt động chính trị cánh tả gần đây.

Theo báo cáo năm 2008 của Freedom House, chỉ một phần các quốc gia trong khu vực Đông Á (36%) là dân chủ, bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Mông Cổ, Indonesia và Đài Loan. Điều này cho thấy dân chủ hóa ở Đông Á vẫn còn một con đường dài nhiều trở ngại.

Nguồn: http://luatkhoa.org/2017/04/7-nen-dan-chu-moi-trong-lan-song-dan-chu-hoa-thu-ba-o-dong/.

Đối thoại FTA: Thứ trưởng Công an cho rằng ‘EU không hiểu rõ cơ chế Việt Nam’

Đó là ý kiến phản hồi của Thứ trưởng Công an, Thượng tướng Lê Quý Vương, với một phái đoàn dân biểu của Quốc hội châu Âu khi họ nói rằng Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam-EU (EVFTA) sẽ gắn chặt với các đòi hỏi về nhân quyền ở Việt Nam.

Như Luật Khoa đã đưa tin, vào cuối tháng 2 vừa qua, một phái đoàn dân biểu thuộc Tiểu ban Nhân quyền của Quốc hội châu Âu (DROI) đã đến Việt Nam để tìm hiểu về tình hình nhân quyền và khả năng phê chuẩn EVFTA.

Dưới đây là tóm lược một số nội dung trong bản báo cáo của phái đoàn sau khi rời Việt Nam do DROI cung cấp cho nguồn tin của Luật Khoa. Báo cáo thuật lại sơ bộ các cuộc gặp với những quan chức cao cấp của Chính phủ và Quốc hội Việt Nam, trong đó có Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng và Thứ trưởng Công an Lê Quý Vương. Ngoài ra, còn có các cuộc tiếp xúc giữa phái đoàn với đại diện tôn giáo và khối xã hội dân sự (có giấy phép cũng như không có giấy phép) ở Việt Nam.

Quốc hội Việt Nam ca ngợi Hiến pháp 2013

DROI có gặp bà Tòng Thị Phóng, Phó Chủ tịch Quốc hội, để đề xuất thành lập một ủy ban lập pháp chung. Còn trong cuộc gặp với Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Thị Dung, phái đoàn nêu ra các vấn đề liên quan tới Bộ luật Hình sự, tự do tôn giáo và tín ngưỡng, bạo lực giới, nạn buôn người và án tử hình.

Bà Dung cho biết, vai trò của Quốc hội như là cơ quan quyền lực cao nhất và cơ quan lập pháp vẫn luôn được đề cao, đồng thời, Hiến pháp mới của Việt Nam (2013) cũng đã được hoàn thiện, có một chương riêng về quyền con người. Về án tử hình, trước có 44 tội danh phải chịu tử hình nhưng nay chỉ còn 18.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Ngô Đức Mạnh cũng đề cao bản Hiến pháp mới, nhất là ở khía cạnh bảo vệ quyền tự do biểu đạt và lập hội.

Quan điểm khác nhau từ Chính phủ, XHDS, và LHQ

Phái đoàn của DROI thảo luận về triển vọng phê chuẩn EVFTA với Thứ trưởng Công Thương Trần Quốc Khánh. Họ đề cập đến cam kết của Việt Nam là cho phép công đoàn độc lập hoạt động, đảm bảo quyền tự do biểu đạt của các blogger… DROI nhấn mạnh rằng tình hình có thể tiến triển chậm nhưng nhất thiết phải đúng hướng.

Khi gặp Thứ trưởng Công an Lê Quý Vương, phái đoàn cho biết họ ủng hộ FTA, cũng như nói rõ rằng FTA liên quan chặt chẽ tới nhân quyền. Đặc biệt, họ nói về tình trạng một số nhà hoạt động xã hội dân sự vẫn thường xuyên bị công an sách nhiễu và ngăn chặn, không cho họ tiếp xúc với phái đoàn lần này. Ngoài ra, các dân biểu cũng nhắc đến việc công dân Việt Nam đã biểu tình để bày tỏ sự lo ngại về tình hình môi trường trong thảm họa biển miền Trung năm ngoái, nhưng bị đàn áp. Theo họ, biểu tình không nên bị coi là một mối đe dọa đối với nhà nước.

Đáp lại, Thứ trưởng Lê Quý Vương giải thích, thể chế là một phần căn bản của nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, và Chính phủ Việt Nam vẫn nỗ lực bảo vệ người dân. Ông giữ quan điểm cho rằng các vấn đề mà phái đoàn dân biểu nêu ra cho thấy họ không hiểu rõ về cơ chế ở Việt Nam.

Ở một chiều kích khác, phái đoàn của DROI gặp gỡ cả các đại diện của một số tổ chức xã hội dân sự hoạt động vì quyền con người ở Việt Nam. Họ ăn trưa với ba tổ chức phi chính phủ có giấy phép để nghe các NGO này trình bày về công việc của mình (ngày 22/2) và một ngày sau đó thì gặp một nhóm nhà hoạt động thuộc các tổ chức không giấy phép.

Đại diện một số tổ chức XHDS Việt Nam gặp gỡ phái đoàn dân biểu EU ngày 23/2 vừa qua. Ảnh: Nguyễn Chí Tuyến.

Các nhà hoạt động đã phản ánh lại những khó khăn trong những công việc bảo vệ nhân quyền vốn bị nhà nước đánh giá tiêu cực, xem là “chống phá”. Sách nhiễu, phân biệt đối xử nghiêm trọng và đặc biệt, bạo lực từ phía công an, là các vấn đề lớn nhất. Hai bên trong cuộc gặp còn thảo luận chi tiết về tình trạng cấm xuất cảnh đối với giới hoạt động nhân quyền.

DROI cũng mời đại diện một vài nhóm tôn giáo – cụ thể là Công giáo và Phật giáo – tới gặp các dân biểu. Họ ghi nhận ba cách phản hồi khác nhau: Một vị nói rằng ở Việt Nam, trên danh nghĩa (theo luật) thì có tự do tôn giáo nhưng trên thực tế thì không, quyền lực của đảng Cộng sản bao trùm lên nhà nước, không tồn tại tam quyền phân lập. Vị thứ hai phát biểu nhẹ nhàng hơn, và vị thứ ba cho biết là không có vấn đề gì với tình hình tự do tôn giáo hiện hành.

Các dân biểu tiếp xúc với một số cơ quan Liên Hợp Quốc ở Việt Nam để thảo luận về lĩnh vực chính sách công. Theo Liên Hợp Quốc, sự khác biệt lớn nhất giữa cơ quan hành pháp của Việt Nam và EU là Việt Nam tập trung vào việc bảo vệ và giữ vững nhà nước, còn ở châu Âu thì các chính phủ tập trung bảo vệ sinh mạng, thân thể và tài sản của người dân. Vai trò của công an ở Việt Nam khi điều tra là làm sao lấy được lời nhận tội từ nghi phạm, thay vì thu thập bằng chứng một cách khách quan.

Những lo ngại về nhân quyền

Bản báo cáo của phái đoàn dân biểu EU dành một phần lớn để nói về các vấn đề nhân quyền ở Việt Nam theo nhận định của họ. “Tình hình kinh tế và xã hội của đất nước được cải thiện đáng kể trong 20 năm qua. Tiến bộ về giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng đã làm thay đổi cuộc sống của rất nhiều người. Lượng người dùng Facebook trên đà tăng, blog phát triển và ở một chừng mực nào đó thì các quan điểm phản biện có thể được bày tỏ”.

Tuy thế, vẫn tồn tại những vấn đề lớn về nhân quyền, đặc biệt về quyền tự do biểu đạt, hiệp hội, và tự do tôn giáo, tín ngưỡng. Blogger phản biện mạnh có nguy cơ bị trả thù bằng nhiều hình thức như đe dọa, cấm xuất cảnh, bắt giữ tùy tiện, và bỏ tù.

Phái đoàn có bày tỏ quan ngại rằng trong Bộ luật Hình sự, Việt Nam vẫn chưa bỏ án tử hình khỏi những tội danh được quy định mơ hồ, có liên quan đến khái niệm “an ninh quốc gia”. Một báo cáo gần đây của Bộ Công an cho biết có 429 người bị tử hình trong thời gian từ tháng 8/2013 đến tháng 7/2014.

Các dân biểu kêu gọi chính quyền Việt Nam xem xét tạm hoãn thi hành các án tử hình – như là bước đầu tiên để tiến tới xóa bỏ hình phạt này trong hệ thống luật Việt Nam.

Cuối cùng, phái đoàn nhấn mạnh một thông điệp rõ ràng rằng những chỉ dấu tích cực về nhân quyền sẽ là điều kiện thiết yếu để Quốc hội châu Âu phê chuẩn EVFTA. “Trong bối cảnh hiện nay, khi tinh thần chống toàn cầu hóa đang dâng lên, các dân biểu xin lưu ý (phía Việt Nam) là không thể coi việc phê chuẩn EVFTA như một chuyện đương nhiên. Chính quyền Việt Nam phải cho thấy những dấu hiệu rõ nét về việc họ tôn trọng nhân quyền, kể cả quyền công nhân được tự tổ chức lại với nhau trong các công đoàn độc lập, mặc cả tập thể và bảo vệ quyền của mình”.

Phía chủ nhà Việt Nam đáp lại bằng phát biểu: Việc EU không phê chuẩn EVFTA sẽ không mang lại giải pháp nào cho vấn đề.

Cả hai bên đều thừa nhận đối thoại nhân quyền Việt Nam-EU là một thiết chế quan trọng, cần được tiếp tục sử dụng.

Nguồn: http://luatkhoa.org/2017/04/thu-truong-cong-eu-khong-hieu-ro-co-che-viet-nam/

CIVICUS: Không gian dân sự Việt Nam thuộc nhóm tệ nhất thế giới.

CIVICUS Monitor điểm danh Việt Nam trong số 20 quốc gia có không gian dân sự tệ nhất thế giới cùng với Bắc Triều Tiên, Lào, Iran và Cuba.

Bản đồ Không gian dân sự thế giới. Ảnh gốc: CIVICUS; Chỉnh sửa: Luật Khoa tạp chí.

Trong báo cáo đầu tiên đưa ra vào ngày 4/4 vừa qua, Mạng lưới nhân quyền quốc tế CIVICUS đã đưa Việt Nam vào nhóm 20 quốc gia có không gian dân sự kém nhất thế giới: “đóng kín”.

Danh sách này gồm 10 quốc gia ở Châu Á như Lào, Triều Tiên, Iran, Syria, Ả rập Saudi, Uzberkistan; Cuba ở châu Mỹ và nhiều quốc gia châu Phi.

CIVICUS nhận xét chung về không gian dân sự của Việt Nam: “Đảng Cộng sản Việt Nam kiểm soát chặt chẽ và hạn chế nghiêm trọng các quyền con người cơ bản. Nhà nước dùng những rào cản pháp lý và quyền lực của mình để cản trở, kiểm soát gắt gao các hội, nhóm độc lập. Việc hội họp liên quan đến các vấn đề nhạy cảm bị cấm, phải xin phép trước hoặc bị sách nhiễu, người tổ chức và người tham gia bị giam giữ”.

CIVICUS là một liên minh thúc đẩy sự tham gia của công dân và xã hội dân sự trên toàn cầu trong hơn 20 năm qua. CIVICUS Mornitor là một nghiên cứu của tổ chức này cùng với các thành viên và đối tác. Nghiên cứu này tạo ra một nền tảng web để liên tục cập nhật và phân tích thông tin về không gian của xã hội dân sự ở các nước.

Báo cáo trên đây dựa trên những dữ liệu được thu thập từ tháng 06/2016 đến 03/2017. Dữ liệu này sẽ được cập nhật và phân tích hàng tuần. Các nhà hoạt động nhân quyền và các cá nhân có thể gửi thông tin qua website.

CIVICUS nhận xét về không gian dân sự Việt Nam

Đánh giá của CIVICUS dựa trên mức độ bảo vệ 3 quyền tự do dân sự cơ bản ở mỗi nước, bao gồm: tự do hiệp hội, tự do hội họp ôn hòa và tự do biểu đạt. Theo đó, từng nước được xếp vào 1 trong 5 nhóm: đóng kín (closed); bị đàn áp (repressed); bị cản trở (obstructed); bị thu hẹp (narrowed); và cởi mở (open).

QUYỀN HIỆP HỘI

Các quyền tự do hiệp hội bị kiểm soát chặt chẽ ở Việt Nam. Các tổ chức không thuộc Mặt trận Tổ quốc đều bị cấm, mặc dù có một số nhóm độc lập vẫn được chấp nhận. Các nhóm xã hội dân sự vấp phải những rào cản về thủ tục đăng ký phức tạp và bị hạn chế nhận tài trợ nước ngoài.

Chính phủ can thiệp quá sâu vào chức năng và hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự. Ví dụ, quyết định 97 của Thủ tướng Chính phủ cấm các tổ chức khoa học và công nghệ có hoạt động liên quan đến chính sách kinh tế, chính sách công, chủ trương đường lối của Đảng và các vấn đề nhạy cảm.

QUYỀN HỘI HỌP

Mặc dù quyền tự do hội họp được Hiến pháp bảo vệ, thực tế các quyền này lại bị giới hạn bởi các quy định pháp luật. Chính quyền luôn từ chối cấp phép hội họp cho những chủ đề nhạy cảm như tôn giáo hay chỉ trích hệ thống chính trị.

Chính quyền theo dõi chặt chẽ các cuộc tụ họp và biểu tình, người tham gia bị quấy nhiễu, hăm dọa và giam giữ. Tháng 5/2016, chính quyền Việt Nam bắt bớ, giam giữ và dùng vũ lực quá mức để trấn áp các cuộc biểu tình cá chết ở miền Trung.

QUYỀN BIỂU ĐẠT

Việt Nam không chấp nhận báo chí tư nhân. Chính phủ và đảng Cộng sản kiểm soát quá mức đối với báo in, phát thanh, truyền hình và Internet. Luật Báo chí năm 1999 quy định tất cả các phương tiện truyền thông là “cơ quan phát ngôn của Đảng”. Chính quyền đưa ra các chỉ thị cấm đưa tin về những người bất đồng chính kiến, nhà hoạt động, các phe phái trong đảng Cộng sản và các vấn đề nhân quyền.

Những người bất đồng chính kiến thường bị giám sát, hạn chế đi lại, bị bắt hoặc giam giữ tùy tiện, thậm chí bị đánh.

Chính quyền sử dụng nhưng điều luật mơ hồ để cầm tù các nhà hoạt động ôn hòa. Nổi bật là các điều luật về “lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân” và “tuyên truyền chống nhà nước” (Bộ luật Hình sự 1999).

Tháng 10/2013, nhà nước đã kiểm duyệt mạng xã hội mà mục tiêu là các blogger. Ít nhất 6 người đã phải ngồi tù năm 2015.

Việt Nam và Lào kém nhất ASEAN

Không gian xã hội dân sự tại các nước ASEAN đều từ mức “bị cản trở” trở xuống. Nhóm quốc gia “bị cản trở” bao gồm: Vương quốc Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines và Singapore.
CIVICUS đánh giá Singapore không cởi mở đối với xã hội dân sự, các hoạt động ở nước này này bị hạn chế và kìm kẹp. Phát triển kinh tế là trên hết. Đảng cầm quyền (đảng Hành động Nhân dân của Lý Hiển Long) gắn bó chặt chẽ với nhà nước. Những người bất đồng chính kiến với chính quyền ít có được kết cục tốt đẹp.

Không gian dân sự bị đàn áp ở Campuchia, Myanmar và Thái Lan.

CIVICUS đưa Myanmar vào nhóm 5 quốc gia bị giám sát (watch list), cùng với Mỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Cameroon, và Macedonia. Do không gian dân sự ở các quốc gia này bị đe dọa và sụt giảm nhanh thời gian gần đây, CIVICUS sẽ quan sát và cập nhật thông tin liên tục ở các quốc gia này.

CIVICUS nói rằng những tháng gần đây quyền tự do ngôn luận ở Myanmar đã suy giảm. Các nhà báo hoạt động trong môi trường khắc nghiệt. Chính quyền đã cấm các nhà báo đi đến bang Rakhine để thu thập bằng chứng phân biệt đối xử đối với với hơn một triệu người Hồi giáo Rohingya và các nhóm thiểu số khác.

Việt Nam và Lào là hai nước đứng cuối khu vực ASEAN.

Tại Lào, hiếm có các cuộc biểu tình. Các nhà hoạt động phải chấp nhận nguy hiểm khi đấu tranh bảo vệ nhân quyền hay chống tham nhũng. Một số nhà hoạt động bị giam giữ, cưỡng bức đến mất tích hơn 10 năm qua. Truyền thông bị kiểm soát nghiêm ngặt, nhà nước đã ra một luật mới để trừng phạt những người đăng thông tin “gây tổn hại đến nhà nước”.

Các tiêu chí xếp loại không gian dân sự của CIVICUS

ĐÓNG KÍN

Không gian dân sự bị đóng kín hoàn toàn trên luật pháp và thực tế. Không khí sợ hãi và bạo lực chiếm ưu thế, những người thực hành các quyền tự do hiệp hội, hội họp ôn hòa và tự do ngôn luận bị giết, bị đánh nặng nề mà không hề được bảo vệ, hay không đòi được công lý. Bất kỳ ai chỉ trích chính quyền nào đều bị trừng phạt và không có tự do báo chí. Internet bị kiểm soát nghiêm ngặt, nhiều trang web bị chặn.

BỊ ĐÀN ÁP

Không gian dân sự bị hạn chế nghiêm trọng. Những ai chỉ trích chính quyền có thể bị theo dõi, quấy rối, đe dọa, bỏ tù, bị đánh, thậm chí bị giết. Mặc dù có tồn tại các tổ chức xã hội dân sự nhưng công việc liên quan đến vận động (advocacy) thường bị hạn chế. Chính quyền từ chối đăng ký hoặc đóng cửa những tổ chức này. Những người tổ chức hoặc tham gia biểu tình ôn hòa có thể bị chính quyền tấn công, bị bắt và giam giữ hàng loạt. Các phương tiện truyền thông chỉ phản ánh ý kiến của nhà nước, bất kỳ tiếng nói độc lập nào cũng bị trừng phạt. Các trang web và mạng xã hội bị chặn, những chiến dịch dân sự trên Internet bị giám sát chặt chẽ.

BỊ CẢN TRỞ

Những nhà lập pháp ở các quốc gia này ban hành những quy định hạn chế về các quyền con người. Chính quyền làm suy yếu các tổ chức xã hội dân sự, bao gồm giám sát bất hợp pháp, quấy rối hành chính và hạ thấp uy tín. Công dân có thể tổ chức và hội họp ôn hòa, đôi khi bị chính quyền sử dụng bạo lực quá mức như đạn cao su, hơi cay. Có không gian cho truyền thông ngoài nhà nước nhưng các nhà báo vẫn có thể bị tấn công và bị cáo buộc tội phỉ báng. Điều này khuyến khích sự kiểm duyệt.

BỊ THU HẸP

Nhà nước ở những quốc gia này cho phép các cá nhân, các tổ chức xã hội dân sự thực hành các quyền tự do hiệp hội, hội họp ôn hòa và tự do biểu đạt, nhưng các quyền này cũng bị vi phạm. Ai cũng có thể thành lập các hội nhóm nhưng lại bị cản trở bằng cách sách nhiễu, bắt giữ hay hành hung bởi những người có quyền lực. Có thể biểu tình một cách ôn hòa, đôi khi chính quyền sẽ từ chối cấp phép do lo ngại về an ninh hoặc sẽ sử dụng vũ lực để chống lại người biểu tình ôn hòa như hơi cay, đạn cao su. Truyền thông được độc lập để phổ biến thông tin, mặc dù nhà nước có thể kiểm soát bằng những quy định nghiêm ngặt hoặc gây áp lực đối với chủ sở hữu.

CỞI MỞ

Nhà nước cho phép và bảo vệ không gian dân sự cho tất cả mọi người. Công dân được tự do thành lập các hội, nhóm; biểu tình ở nơi công cộng; tiếp nhận và truyền đạt thông tin mà không có bất kỳ hạn chế nào trên luật pháp và thực tế. Chính quyền chấp nhận các chỉ trích từ các nhóm xã hội dân sự và xây dựng không gian đối thoại cởi mở với công chúng. Nguyên tắc là cảnh sát sẽ bảo vệ những người biểu tình và bảo vệ các quyền tự do theo chuẩn mực quốc tế. Truyền thông được tự do, không có kiểm duyệt và công dân có thể tiếp cận thông tin từ chính phủ rất dễ dàng.

Nguồn: http://luatkhoa.org/2017/04/civicus-khong-gian-dan-su-viet-nam-thuoc-nhom-te-nhat-the-gioi/

Chiến dịch Tù Nhân Lương Tâm Tôn Giáo

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2017-04-07.
Buổi lễ phát động Chiến dịch Tù Nhân Lương Tâm Tôn Giáo tại Washington, DC hôm 6/4/2017.

Buổi lễ phát động Chiến dịch Tù Nhân Lương Tâm Tôn Giáo tại Washington, DC hôm 6/4/2017.

Chiến dịch Tù Nhân Lương Tâm Tôn Giáo.

Chiến dịch Tù Nhân Lương Tâm Tôn Giáo mà  Ủy Hội Hoa Kỳ Về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế phát động, diễn ra tại trung tâm thăm viếng trong điện  Capitol  hôm thứ Năm dưới hình thức một cuộc họp báo.

Buổi họp này nhằm mục đích nêu bật vấn đề tự do tôn giáo, nêu danh những tù nhân lương tâm trên thế giới.

– Linh mục Thomas ReeseĐây là nỗ lực hay có thể gọi là bước hành động mới của Ủy Hội Hoa Kỳ Về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế, nêu bật những hồ sơ tiêu biểu liên quan đến những cá nhân  đang bị cầm tù ngay trên đất nước của họ vì đã bày tỏ đức tin hoặc  tranh đấu cho quyền tự do tín ngưỡng.

Phúc trình thường niên của Ủy Hội Hoa Kỳ  Về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế  còn giữ vai trò quan trọng trong việc tư vấn cho quốc hội cũng như hành pháp Mỹ  về tình hình tự do tôn giáo tại các nước trên thế giới .

Lên tiếng với đài Á Châu Tự Do trước buổi họp, chủ tịch của USCIRF, linh mục Thomas Reese, cho biết:

Buổi họp này nhằm mục đích nêu bật vấn đề tự do tôn giáo, nêu danh những tù nhân lương tâm trên thế giới. Đây là những người thiệt thòi vì  qui định khắt khe của chính phủ nước họ. Họ bị giam cầm, bị sách nhiễu, bị buộc phải chối bỏ đức tin bởi một nhà nước chủ trương kiểm soát chặt chẽ hoạt động thờ phượng. Nhiệm vụ của Ủy Hội Hoa Kỳ Về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế là nói lên tiếng nói thay cho họ, rằng họ không bị quên lãng, rằng chúng ta hiểu được sự đau khổ họ đang chịu đựng với hy vọng các chính phủ phải xem lại mà trả tự do cho họ.

Hồ sơ về Việt Nam

IMG_8972-400.jpg
Hình mục sư Nguyễn Công Chính và vợ, bà Trần Thị Hồng tại buổi phát động Chiến dịch Tù Nhân Lương Tâm Tôn Giáo. RFA photo

Được biết trong  số 10 hồ sơ tiêu biểu về tù nhân lương tâm các nước có hồ sơ về Việt Nam và trường hợp tù tội của mục sư Nguyễn Công Chính cùng trường hợp bị sách nhiễu đối với vợ mục sư Chính là bà Trần Thị Hồng.

Soạn thảo hồ sơ về mục sư Nguyễn Công Chính đang bị tù tội là ủy viên Jackie Wolcott của Ủy Hội Hoa Kỳ Về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế. Linh mục Thomas Reese là người trình bày về ông Nguyễn Công Chính tại buổi họp báo:

Vị mục sư này đang bị giam giữ trong tù, bị đánh đập và bị sách nhiễu. Chúng tôi nêu ra để mong chính phủ Việt Nam nương tay đối với ông ta đồng thời để yên cho dân chúng của họ được tự do thờ phượng.

Việt Nam là nước được quan tâm theo dõi bao năm qua, được chúng tôi nhắc đi nhắc lại trong mỗi phúc trình hàng năm về tự do tôn giáo. Chúng tôi từng liệt tên Việt Nam vào danh sách CPC những nước cần quan tâm đặc biệt vì  thiếu tự do tôn giáo một cách trầm trọng.

Bản thân tôi từng thăm viếng Việt Nam hai năm trước, từng chứng kiến những tiến bộ đáng kể trong lãnh vực tôn giáo ở đất nước này sau chiến tranh. Thế nhưng điều chúng tôi băn khoăn là vấn đề tù nhân lương tâm mà điển hình là vị mục sư  được nhắc đến hôm  nay.

Chúng tôi từng liệt tên Việt Nam vào danh sách CPC những nước cần quan tâm đặc biệt vì  thiếu tự do tôn giáo một cách trầm trọng.
– Linh mục Thomas Reese

Trong hai năm qua Ủy Hội Hoa Kỳ Về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế vẫn gọi Việt Nam là quốc gia cần quan tâm đặc biệt  vì thiếu tự do tôn giáo. Phúc trình thường niên 2016 sắp hoàn tất và sẽ được công bố cuối tháng này, khi đó quí vị sẽ thấy chúng tôi xếp hạng Việt Nam như thế nào. Nhưng tôi có thể khẳng định đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC vẫn là yêu cầu của Ủy Hội đối với hành pháp Hoa Kỳ. Mọi chi tiết sẽ được thể hiện trong phúc trình thường niên về tự do tôn giáo 2016 tới đây.

Tại buổi họp báo hôm thứ Năm, Ủy Hội Hoa Kỳ Về Tự Do Tôn Giáo  Quốc Tế cũng mời gọi báo giới và các tổ chức NGO góp ý về việc làm sao đẩy mạnh chiến dịch Tù Nhân Lương tâm Tôn Giáo ra toàn thế giới, kêu gọi sự chú ý vận động để những người này được trả tự do và trở lại cuộc sống bình thường.

Dịp này, một mẫu đơn để mọi người điền tên tuổi cũng như trường hợp tù nhân lương tâm đang bị tù đày, bị hành hạ hay bị mất tích mà họ biết , kế đó ký tên xác nhận. Danh sách với chữ ký sẽ được Ủy Hội Hoa Kỳ Về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế dùng làm bằng chứng cho những vận động sắp tới nhằm chấm dứt điều gọi là vì thờ phượng hay sinh hoạt theo đức tin mà bị bắt giữ một cách vô cớ và tùy tiện.

Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/uscirf-n-religiou-prisoner-conscience-project-04072017080910.html

VNTB- LM Phan Văn Lợi: Hoan nghênh ‘danh sách chế tài’ của BPSOS

Hàn Giang
(VNTB) – “Đạo luật Magnitsky không chỉ nhắm đến những thành phần lãnh đạo mà còn nhắm đến những thành phần thừa hành nữa, ví dụ trong việc đàn áp không chỉ có những cá nhân chóp bu chỉ đạo Trung ương mà ngay cả những viên chức cảnh sát, công an ở địa phương cũng tham gia đàn áp thì cũng sẽ bị xử lý”. 
 
   Linh mục Phan Văn Lợi (ảnh: Facebook Phan Van Loi)
 
Theo Thông báo vào ngày 3 tháng 4 năm 2017, của “Ủy ban cứu Người vượt biển” (gọi tắt là BPSOS) do Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng làm Chủ tịch, có trụ sở tại Hoa Kỳ cho biết, để mở đầu cuộc tổng vận động Quốc Hội và Hành Pháp Hoa Kỳ năm 2017, công bố hồ sơ Số 1 trong tổng cộng 6 hồ sơ đã được hoàn tất với danh sách 168 giới chức chính quyền Việt Nam được đề nghị chế tài theo Luật Magnitsky Toàn Cầu của Hoa Kỳ.
   Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng (bên phải) (ảnh: Facebook Huỳnh Thục Vy)
Theo trang Mạch Sống Media thông tin, hồ sơ Số 1 gồm 25 nhân vật liên can đến các hành vi tra tấn đối với Mục Sư Nguyễn Công Chính và vợ là Bà Trần Thị Hồng. Một số nhân vật điển hình gồm:
·  Đại Tá Vũ Văn Lâu, Giám Đốc Sở Công An Tỉnh Gia Lai
·  Đại Tá Nguyễn Văn Long, Giám Đốc Sở Công An Thành Phố Pleiku
·  Đại Tá Nguyễn Văn Trạch, nguyên Phó Giám Đốc Sở Công An Tỉnh Gia Lai
·  Ông Lê Văn Hà, Chánh Án Toà Án Nhân Dân Tỉnh Gia Lai
·  Ông Phạm Bá Sơn, Chánh Án Toà Phúc Thẩm Tỉnh Gia Lai
·  Trung Tá Nguyễn Đình Oánh, Trại Giam T20, Tỉnh Gia Lai
·  Đại Uý Nguyễn Anh Tuấn, Trại Giam T20, Tỉnh Gia Lai
·  Trung Uý Trần Cao Cương, Trại Giam T20, Tỉnh Gia Lai
·  Thiếu Tá Hoàng Đức Giang, Trại Tù An Phước, Tỉnh Bình Dương
·  Đại Uý Đinh Ngọc Quỳnh, Trại Tù An Phước, Tỉnh Bình Dương
·  Ông Huỳnh Văn Trà, Chủ Tịch Uỷ Ban Nhân Dân Phường Hoa Lư, Thành Phố Pleiku, Tỉnh Gia Lai.
Trong khi chờ đợi Quốc Hội và Hành pháp Hoa Kỳ tiến hành thực thi chế tài theo luật Magnitsky đối với những quan chức Việt Nam vi phạm nhân quyền và tham nhũng, theo Linh mục (Lm.) Phan Văn Lợi, việc làm này của riêng cá nhân Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng và BPSOS là rất có ý nghĩa, là niềm hy vọng và có tác động rât lớn đối với phong trào đấu tranh đòi Tự do, Dân chủ và Nhân quyền ở Việt Nam.
PV.VNTB: Thưa Lm Lợi! Có tổng cộng 6 hồ sơ đã được hoàn tất với danh sách 168 quan chức Việt Nam mà BPSOS đề nghị Quốc Hội và Hành Pháp Hoa Kỳ chế tài theo Luật Magnitsky Toàn Cầu của Hoa Kỳ. Một số cá nhân trong hồ sơ 1 được BPSOS công bố là những cá nhân liên can đến các hành vi tra tấn đối với Mục Sư Nguyễn Công Chính và vợ là bà Trần Thị Hồng, theo Linh mục thì việc làm này của BPSOS nó có những ý nghĩa nào?
Lm.Phan Văn Lợi: Cách đây không lâu chúng ta đã biết là Quốc hội Hoa Kỳ và cựu Tổng thống Obama đã đưa ra đạo luật Nhân quyền toàn cầu Magnitsky để truy tầm những cá nhân vi phạm nhân quyền và tham nhũng trên khắp thế giới, không cho họ vào nước Hoa Kỳ, phong tỏa những tài sản của những cá nhân này đã gửi tại Hoa Kỳ. Đây rõ là niềm hy vọng lớn lao cho tất cả những ai quan tâm ở khắp thế giới đặc biệt là ở Việt Nam, bởi vì chúng ta đã thấy những quan chức nằm trong bộ máy cai trị của Việt Nam vừa tham nhũng, bóc lọt không những của công mà còn của của tư, đồng thời đàn áp người dân. Vì vậy, đạo luật Magnitsky như là một lời cảnh báo cũng như một sự chặn cửa cho những tay tội phạm đó, tội phạm đối với toàn quốc đó là điều làm chúng ta vui mừng. Hơn nữa, chúng ta phải thấy được một điều thế này, những cá nhân lãnh đạo cao cấp ở Việt Nam đang tìm cách vơ vét, giành giật của nhau và của dân để đi ra nước ngoài. Cho nên những việc làm của Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng và BPSOS là một việc làm rất có ý nghĩa, là lời cảnh báo cho cá nhân lãnh đạo ở Việt Nam đừng có mơ rằng sẽ chạy ra khỏi nước và ung dung hưởng những tài sản đã cướp bóc của người dân. Chúng tôi hoan nghênh những việc làm của Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, những việc làm của BPSOS, là một việc đấu tranh trên phương diện pháp lý và cần phải như vậy.
PV.VNTB: Theo Linh mục thì Linh mục có đặt niềm tin là Quốc Hội và Hành Pháp Hoa Kỳ lần này sẽ thực hiện chế tài Magnitsky đối với những cá nhân quan chức Việt Nam theo như danh sách BPSOS đưa ra hay không?
 
Lm.Phan Văn Lợi: Thứ nhất, điều này còn tùy vào ở phía trong nước chúng ta, cụ thể là những cá nhân, tổ chức đấu tranh đưa ra những hồ sơ cho đầy đủ với những bằng cớ cho rõ ràng. Thứ hai, những đồng bào ở Hải ngoại đặc biệt là ở Hoa Kỳ phải cố gắng vận động chính giới, báo giới ở đó quan tâm đến những trường hợp, nhất là nêu bật những trường hợp mà chính quyền Việt Nam vừa đàn áp người dân, vừa đàn áp những nhân vật đấu tranh. Thành công hay không? Quốc hội, Hành Pháp và Tổng thống Hoa Kỳ có quan tâm hay không còn phụ thuộc rất nhiều sự nổ lực ở phía chúng ta, của đồng bào ở Hải ngoại. Ở đây tôi muốn nhấn mạnh một lời, xin đồng bào ở tất cả các nơi như ở Châu Âu, Châu Úc, Châu Á phải có những hình thức vận động để có những đạo luật như đạo luật Magnitsky xuất hiện tại các nước dân chủ, để chúng ta chặn tất cả mọi ngã đường đẩy tài sản và tẩu thoát ra nước ngoài của những cá nhân quan chức Việt Nam vi phạm.
PV.VNTB: Đặt trường hợp Quốc Hội và Hành Pháp Hoa Kỳ chấp nhận danh sách mà phía BPSOS đưa ra và tiến hành thực hiện chế tài theo đạo luật Magnitsky, điều này theo Linh mục có khiến những cá quan chức không nằm trong danh sách có run sợ, không dám vi phạm Nhân quyền hay không?
Lm.Phan Văn Lợi: Đạo luật Magnitsky không chỉ nhắm đến những thành phần lãnh đạo mà còn nhắm đến những thành phần thừa hành nữa, ví dụ trong việc đàn áp không chỉ có những cá nhân chóp bu chỉ đạo Trung ương mà ngay cả những viên chức cảnh sát, công an ở địa phương cũng tham gia đàn áp thì cũng sẽ bị xử lý. Cũng như trong việc tham nhũng cũng vậy, từ người đứng đầu cho đến những kẻ góp sức cho việc tham nhũng đó cũng phải chịu xử lý, chịu chế tài của đạo luật Magnitsky. Cho nên chúng ta hy vọng Quốc hội, Hành Pháp và Tổng thống Hoa Kỳ thông qua danh sách 168 người đó thì cũng là một lời nhắc nhở cho những quan chức khác phải ý thức rằng, họ cũng đang bị nhắm đến, để mà họ có thể chùn tay lại.
PV.VNTB: Một câu hỏi cuối là liệu những việc làm của Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, của BPSOS có tác động như thế nào đến phong trào đấu tranh tự do, dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam?
 
Lm.Phan Văn Lợi: Đây là một sự tiếp sức rất lớn bởi vì khi đaọ luật Magnitsky vừa mới được ban hành, trước khi Tổng thống Obama ra đi thì các cá nhân, tổ chức dân sự đã có bản lên tiếng ủng hộ và cám ơn rồi. Bây giờ chúng tôi chỉ mong rằng đạo luật này phát huy tác dụng như thế nào đối với phía Việt Nam bởi vì Việt Nam như mọi người đã biết là một trong những quốc gia được quốc tế đánh giá đàn áp và tham nhũng hàng đầu thế giới
VNTB cám ơn những chia sẻ của Linh mục Phan Văn Lợi!
 
Theo trang Mạch Sống Media thông tin, BPSOS chọn 6 hồ sơ cho cuộc vận động năm 2017 dựa trên các tiêu chuẩn sau:
(1) Sự đàn áp nghiêm trọng vì xảy ra hành vi tra tấn hay đánh chết người.
(2) Nạn nhân là những người tranh đấu cho nhân quyền.
(3) Hồ sơ khả tín vì đã được quốc tế, nhất là chính quyền Hoa Kỳ, công nhận.
(4) Vấn đề trách nhiệm có thể truy cứu đến những giới chức chính quyền.
Cả 6 hồ sơ đã được nộp cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và Uỷ Hội Hoa Kỳ về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế ngày 17 tháng 3, 2017. Uỷ Hội Hoa Kỳ về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế chính thức chọn hồ sơ Số 1, tức hồ sơ về Mục Sư Nguyễn Công Chính và Bà Trần Thị Hồng, cho Đề Án Tù Nhân Lương Tâm Tôn Giáo. Đề án này là nỗ lực của Uỷ Hội để cung cấp dữ kiện cho Hành Pháp Hoa Kỳ trong việc đưa một số quốc gia, trong đó có Việt Nam, vào danh sách Quốc Gia Phải Quan Tâm Đặc Biệt (CPC).
Ngày 31 tháng 3 vừa qua, Ts. Nguyễn Đình Thắng và cựu Đại Sứ Grover Joseph Rees cùng đại diện cho BPSOS đến họp với Uỷ Hội Hoa Kỳ về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế về kế hoạch phối hợp hành động.

Nếu như Quốc Hội và Hành Pháp Hoa Kỳ thông qua danh sách 168 quan chức Việt Nam vi phạm nhân quyền mà BPSOS đưa lên thì không chỉ bản thân mà người thân của 168 quan chức này cũng sẽ bị chế tài của đạo luật Magnitsky Hoa Kỳ.

Nguồn: http://www.ijavn.org/2017/04/vntb-lm-phan-van-loi-hoan-nghenh-danh.html

Phân biệt Nhân quyền và Dân quyền

Mỗi cá nhân đều được hưởng các quyền cơ bản nhất định, được hình thành một cách tự nhiên hoặc được hiến pháp công nhận. Nhân quyền và Dân quyền là hai loại quyền căn bản thường gặp và hay được đem ra tranh luận. Tuy có nhiều điểm giao thoa, song mỗi loại quyền này đều có những tính chất và đặc điểm riêng của mình.

  • Dạ Lãm, tổng hợp

1. Nhân quyền là gì?

Nhân quyền (human rights), hay quyền con người là các quyền cơ bản nhất, tự nhiên nhất của con người. Chúng là những quyền mà con người sinh ra đã có, đã được công nhận, không (và không nên) được trao cho hay ban tặng bởi bất kỳ lý tưởng chính trị, tôn giáo hay thể chế nhà nước nào; và cũng không thể bị tước đi bởi chúng.

Nhân quyền bao gồm: quyền sống, quyền được giáo dục, quyền được bảo vệ khỏi các hình thức tra tấn, quyền tự do biểu đạt, quyền được xét xử công bằng, v.v. Nhiều quyền trong số đó có bản chất dân quyền (civil rights), song được xem là cần thiết cho sự tồn tại của con người.

Trẻ em Do Thái tại một trại tập trung của Đức Quốc Xã. Holocaust được xem là một trong những vi phạm nhân quyền kinh khủng nhất trong lịch sử thế giới hiện đại. Ảnh: BORGEN Magazine

Khái niệm nhân quyền trong môi trường pháp lý chính quy được hình thành sau Thế chiến II, liên quan đặc biệt tới những tội ác mà Đức Quốc xã thực hiện với người Do Thái và các nhóm dân tộc khác. Vào năm 1948, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, củng cố nền tảng nhân quyền trong luật pháp và chính sách quốc tế.

2. Dân quyền là gì?

Dân quyền, hay còn gọi là quyền công dân là những quyền mà một người được hưởng trên cơ sở là công dân của một quốc gia nhất định.

Dân quyền bảo vệ công dân khỏi sự phân biệt, đàn áp và trao cho họ một số quyền tự do nhất định, như tự do ngôn luận, quyền tham gia tố tụng đúng luật (due process), quyền được xét xử công bằng (fair trials), quyền không tự buộc tội (the right against self-incrimination),.v.v.. Hay rõ ràng có thể nghĩ đến quyền công dân được nhà nước mình bảo hộ.

Dân quyền có thể được xem là kết quả của sự thỏa thuận giữa nhà nước và cá nhân, trong mối quan hệ giữa nhà nước và công dân đó.

3. Cơ sở phát sinh quyền

Nhân quyền phát sinh tự nhiên, trên cơ sở “sự tồn tại con người”. Tức là đã sinh ra làm người thì ắt sẽ có nhân quyền. Mọi cá nhân bất kể màu da, giới tính, chủng tộc, tôn giáo, có quốc tịch hay không quốc tịch, đều có quyền con người. Nhân quyền có tính phổ quát, không có sự phân biệt “nhân quyền Việt Nam” hay “nhân quyền Mỹ”, đó là các quyền mà con người dù ở đâu cũng có như nhau.

Phong trào dân quyền tại Hoa Kỳ những năm 50 – 60 mang bản chất đấu tranh cho cả dân quyền và nhân quyền. Ảnh: Wikipedia

Phong trào dân quyền tại Hoa Kỳ những năm 50 – 60 mang bản chất đấu tranh cho cả dân quyền và nhân quyền. Ảnh: Wikipedia

Dân quyền phức tạp hơn, chỉ phát sinh khi các quyền đó được pháp luật công nhận. Mà cụ thể là các quyền này sẽ được quy định trong hiến pháp hoặc luật quốc gia. Dân quyền ở mỗi quốc gia có sự khác nhau nhất định. Không quốc gia nào có thể tước đi quyền con người của một cá nhân, song mỗi quốc gia khác nhau có thể công nhận hoặc từ chối những quyền dân sự và tự do khác nhau. Ví dụ: người dân nước X có thể có ít dân quyền hơn người dân nước Y, dân quyền nước Y có nội dung khác dân quyền nước X.

Vì các quan điểm chính trị cũng như pháp lý khác biệt, không dễ để phân biệt đâu là nhân quyền và đâu là dân quyền.

Ở Việt Nam, trong Hiến Pháp 2013, có thể phần nào xác định quyền tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình (điều 25) là những loại hình dân quyền (Vì không phải bất kỳ thể nhân nước ngoài nào cũng được trao những quyền tương tự). Nhưng những quyền như quyền được sống, quyền tự do ngôn luận (Điều 25), Quyền bình đẳng giới (điều 26), v.v. phần nào đó lại mang bản chất nhân quyền.

4. Đối tượng hưởng quyền

Nhân quyền: mọi con người, bất kể giới tính, độ tuổi, chủng tộc, tôn giáo, quốc gia đều có Nhân quyền.

Dân quyền: chỉ khi là công dân của một quốc gia nhất định thì mới có các quyền dân sự được công nhận và bảo hộ ở quốc gia đó.

Như vậy, mọi cá nhân đều có các quyền con người như nhau, song mỗi người sẽ có các quyền dân sự khác nhau tùy thuộc vào quốc gia mà họ là công dân.

5. Phạm vi áp dụng

Do Nhân quyền có tính phổ quát, nên ở đâu có con người, ở đó có Nhân quyền. Và Nhân quyền ở các quốc gia khác nhau là như nhau (hoặc nên là như vậy).

Dân quyền ở mỗi quốc gia khác nhau sẽ có những sự khác nhau nhất định, tùy vào quy định của hiến pháp và pháp luật quốc gia đó. Công dân một nước nhất định chỉ được hưởng các quyền dân sự nhất định mà pháp luật của nước họ đã công nhận.

Nhân quyền được và cần được chấp nhận rộng rãi bất kể quốc tịch, tôn giáo và dân tộc. Trong khi Dân quyền bị hạn chế bởi pháp luật quốc gia và những quy chuẩn xã hội, văn hóa, truyền thống, cũng như các khía cạnh khác của quốc gia đó.

Trong bối cảnh quốc tế, dân quyền xuất phát từ hiến pháp hay luật pháp của mỗi quốc gia, trong khi nhân quyền được xem là phổ quát cho mọi người. Do đó, cộng đồng quốc tế ít có khả năng phản ứng với các quốc gia khi có sự vi phạm dân quyền trong quốc gia đó, mà thường hành động khi có những vi phạm về nhân quyền.

6. Văn bản pháp lý quốc tế

Về nhân quyền:

Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 tại Palais de Chaillot ở Paris, Pháp. Đây là tuyên ngôn về các quyền cơ bản của con người, liệt kê các quyền cơ bản mà mọi cá nhân được hưởng. Bản tuyên ngôn gồm 30 điều đã được xây dựng trong các Thỏa ước quốc tế, thỏa ước nhân quyền khu vực, hiến pháp và luật pháp quốc gia.

Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền là một phần của Bộ Luật Nhân quyền Quốc tế bao gồm Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa, và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị; cùng hai Nghị định thư không bắt buộc I và II.

Về Dân quyền:

Là một phần của Bộ luật Nhân quyền Quốc tế, Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc và các quốc gia thành viên thông qua ngày 16 háng 12 năm 1966 và có hiệu lực từ ngày 23 tháng 03 năm 1976. Công ước nêu tổng quan các quyền dân sự và chính trị cơ bản của con người.

Điểm đáng lưu ý là ngay cả hai công ước cơ bản về Dân quyền và Nhân quyền nói trên cũng không xác định rõ được lằn ranh giữa hai loại quyền. Đây nên được xem là một thiếu sót lớn trong hệ thống pháp luật quốc tế trong tương lai.

Tài liệu tham khảo

Nhân quyền, Wikipedia

Civil Rights and Human Rights, Garry Crystal, 6/5/2016

What is the Difference Between a Human Right and a Civil Right?, HG.org

Difference Between Human and Civil Rights, differencebetween.net

 

Hội Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam tham gia hội thảo về XHDS

LTS – Một đất nước muốn có được một nền dân chủ bền vững, thì đất nước đó phải có nhiều tổ chức xã hội dân sự vững mạnh. Trên khía cạnh này, các chị em phụ nữ Việt Nam đã đóng một vai trò tiên phong rất ngoạn mục. Bị đàn áp, họ kiếm đến nhau để thành lập Hội Phữ Nữ Nhân Quyền Việt Nam nhằm bảo vệ quyền lợi cho các chị em phụ nữ. Bị cấm đoán, họ vẫn khéo léo tìm cách vô hiệu hóa vòng kềm tỏa của nhà nước để hoạt động rộng lớn hơn và hữu hiệu hơn. Trong một cuộc hội thảo với chủ đề “Thử thách và cơ hội trong việc phát triển xã hội dân sự Việt Nam”, tại trụ sở Hạ Viện Hoa Kỳ ngày 1 tháng 2 năm 2017, một người đại diện cho hội PNNQVN đã chia sẻ kinh nghiệm và tâm tình qua bài viết sau đây.

Kính thưa quý vị quan khách, trong khuôn viên của Quốc Hội Hoa Kỳ ngày hôm nay.

Thật là niềm vinh dự cho tôi có cơ hội trình chịy với quý vị quan tâm về tình hình của hội Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam (PNNQVN) mà tôi là một thành viên trong khuôn viên của Quốc Hội Hoa Kỳ ngày hôm nay.

Vào tháng 11 năm 2013, một nhóm phụ nữ tranh đấu cho nhân quyền đã tập họp lại và quyết định thành lập một tổ chức Xã Hội Dân Sự (XHDS) độc lập lấy tên là Hội PNNQVN, nhằm mục đích bảo vệ nhân quyền, đặc biệt là quyền phụ nữ tại Việt Nam. Nhiều thành viên của chúng tôi vốn là tù nhân lương tâm, dân oan và các nạn nhân bị tra tấn và bạo hành bởi nhân viên công lực. Nhà cầm quyền Việt Nam không công nhận tổ chức của chúng tôi, chính vì thế Hội PNNQVN nằm ngoài vòng pháp luật của họ. Những thành viên cốt lõi của hội có khả năng về Anh ngữ được chú ý đặc biệt và liệt vào danh sách cấm xuất cảnh.

Để giúp các hội viên tại Việt Nam, chúng tôi thành lập nhóm kết nghĩa tại hải ngoại vào năm 2015. Hội cũng có thành viên đại diện tại Hoa Kỳ, Gia Nã Đại và Thái Lan để giúp cho các thành viên tại Việt Nam tiếp cận với các cộng đồng quốc tế, và đặc biệt là có thể thay mặt các thành viên tại quốc nội tham gia các cuộc hội thảo và diễn đàn Người Dân trong vùng Đông Nam Á và quốc tế khi các chị em trong nước bị nhà cầm quyền Việt Nam cấm cản xuất cảnh.

Hội chúng tôi là tổ chức XHDS Việt Nam duy nhất và đầu tiên được kết nạp làm thành viên của FORUM-ASIA và Mạng Lưới Dân Chủ Á Châu vào tháng 1 năm 2016.

Nhờ vào sự nối kết này chúng tôi đã giúp thành viên của hội tiếp cận và tham dự các diễn dàn khu vực và quốc tế. Trong khi thành viên của hội bị cấm xuất cảnh, những thành viên đại diện tại hải ngoại đã tham dự vào các diễn đàn này để lên tiếng trình chịy về những vi phạm nhân quyền, đăc biệt là những vi phạm đối với chị em phụ nữ tại Việt Nam tại tại hội nghị được tổ chức tại Đông Timor, Thái Lan, Sri Lanka, Phi Luật Tân trong năm 2016.

Một trường hợp đặc biệt của một thành viên của hội đó là chị Trần Thị Hồng, vợ của Mục Sư Nguyễn Công Chính. Mục Sư Nguyễn Công Chính, thuộc Hội Thánh Tin Lành Lutheran Việt Nam, đã bị cầm tù kể từ năm 2012. Mục Sư Chính đã nhiều lần bị đánh đập và ngược đãi trong trại giam và bị hạn chế trong việc được thăm nuôi. Nhưng tệ hại hơn nữa là vợ và con của Mục Sư Chính luôn thường xuyên bị hành hung và đe dọa. Điển hình là sau khi gặp gỡ ông David Saperstein, Đại Sứ lưu động về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế vào tháng 3 năm 2016, chị Hồng, vợ Mục Sư Chính đã bị câu lưu và đánh đập bởi công an địa phương. Một ngày vào tháng 5 năm 2016, tôi gửi tin nhắn qua Facebook cho chị Hồng để hỏi thăm – “Chị khỏe không?”. Tôi thật bất ngờ nhận được tin nhắn trả lời từ con của chị Hồng: “Thưa cô, công an đã đến nhà và bắt mẹ con đi rồi.” Lúc đó, tôi thực sự cảm nghẹn ngào và bất lực. Tôi không thể làm gì bất cứ điều gì ngay thời điểm đó để giúp chị Hồng khi tôi biết chắc rằng lúc đó ấy chị đang phải chịu sự hành hạ và tra tấn từ công an. Cảm giác đó đau đớn đến nỗi tôi chỉ biết ngồi đó và khóc. Họ đã đánh đập và tra tấn chị Hồng rất tàn nhẫn và dã man. Sau đó họ chở chị ấy về và quẳng chị xuống lề đường trước của nhà của chị. Chị Hồng không còn sức để bước vào nhà. Các người hàng xóm đã đến giúp khiêng chị vào nhà.

Những ngày liên tiếp sau đó, chúng tôi đã làm việc ngay với nhau để viết bản báo cáo vi phạm đến các văn phòng Liên Hiệp Quốc (LHQ). Chúng tôi viết báo cáo bằng tiếng Việt và sau đó nhờ thiện nguyện viên dịch sang ngay tiếng Anh. Chúng tôi có rất nhiều việc cần làm để giúp người dân tại Việt Nam. Đặc biệt là các chị em phụ nữ. Chúng tôi không những giúp các thành viên của hội, mà chúng tôi muốn giúp tất cả mọi chị em phụ nữ tại Việt Nam.

Hội PNNQVN làm việc sát cánh với các tổ chức khác trong mạng lưới các tổ chức XHDS độc lập tại Việt Nam như Liên Minh Chống Tra Tấn – Việt Nam, Chiến Dịch Cứu Giáo Xứ Đông Yên để cùng nhau hoàn thiện những bản báo cáo vi phạm nhân quyền và gửi đến các văn phòng LHQ và bộ ngoại giao Hoa Kỳ và Liên Hiệp Âu Châu.

Chúng tôi kêu gọi và mong đợi sự tiếp tay và yểm trợ về tài chánh cũng như nhân lực của đồng bào Việt Nam tại hải ngoại để giúp hội PNNQVN nói riêng và các tổ chức XHDS độc lập tại Việt Nam nói chung bằng cách tham gia vào các nhóm kết nghĩa tại hải ngoại.

Chúng tôi mời gọi sự hợp tác của các tổ chức XHDS độc lập tại Viêt Nam và các tổ chức nhân quyền quốc tế với hội PNNQVN, ngỏ hầu quyền Phụ Nữ và Nhân Quyền tại Việt Nam được tôn trọng và thực thi theo đúng như lời cam kết của nhà cầm quyền Việt Nam trước LHQ và quốc tế.

Xin trân trọng cảm tạ sự quan tâm của quý vi.

Đinh Thị Ngọc Tuyết

Thành viên và đại diện hội PNNQVN tại Hoa Kỳ

Xin xem video lời phát biểu tiếng Anh tại đây:

Bản Tin Số 1

1: Giới thiệu về Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam.
2: Thông tin về Mục sư Nguyễn Công Chính từ vợ là chị Trần Thị Hồng.
3: Tù Nhân Lương Tâm Lương Văn Bảy: Kinh nghiệm của tù nhân trước và sau khi ở tù.
4: Phụ Nữ Dân Oan qua lời tự sự của cô Hồ Thị Bích Khương.