Human Rights

Sự xuất hiện, phát triển và nhận thức về vai trò của Xã hội dân sự ở Việt Nam

Trong những năm gần đây, vấn đề xã hội dân sự được giới nghiên cứu lý luận quan tâm, chú ý. Nhiều ý kiến cho rằng, trong thời đại ngày nay, xã hội dân sự là một trong ba khu vực cơ bản của xã hội, là “một đỉnh của tam giác” phát triển xã hội. Theo đó, kinh tế thị trường là điều kiện cần thiết cho sự phát triển, nhà nước pháp quyền là yếu tố quyết định trực tiếp đến sự phát triển và xã hội dân sự đảm bảo cho sự phát triển cân bằng và bền vững của xã hội.

Nội dung, phạm vi và các yếu tố cấu thành của xã hội dân sự hiện vẫn được hiểu theo nhiều cách khác nhau, nhưng nội dung cốt lõi nhất của nó chính là hệ thống các tổ chức xã hội của công dân được gắn kết bởi những nhu cầu, lợi ích chung, các giá trị hoặc truyền thống chung để tiến hành nhiều hoạt động khác nhau nhằm phối hợp với nhà nước, bổ sung cho những khiếm khuyết của nhà nước, đảm bảo sự ổn định, cân bằng và phát triển bền vững của xã hội. Xã hội dân sự là một khu vực “phi nhà nước”, bao gồm các liên hiệp, hiệp hội, hội, tổ chức cộng đồng, nhóm tình nguyện, tổ chức phi chính phủ, thực hiện các chức năng, vai trò xã hội hoặc mục đích nghề nghiệp, từ thiện, nhân đạo nhất định; hoạt động chủ yếu dựa trên tính tự chủ về tài chính, tự quản trong tổ chức quản lý và sự tự nguyện của các thành viên, hội viên với mục tiêu phi lợi nhuận, đa dạng về hình thức tổ chức, phong phú về mục tiêu cụ thể.

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội

Khoa xã hội học

Bài tiểu luận: XÃ HỘI HỌC CHÍNH TRỊ

ĐỀ TÀI: XÃ HỘI HỌC DÂN SỰ 

GVHD: Th.s Nguyễn Văn Đáng

Sinh viên:

Lớp: K53 Xã hội học

MSSV:  

Hà Nội, 2010

Sự xuất hiện, phát triển và nhận thức về vai trò của Xã hội dân sự ở Việt Nam

Bài làm

Xã hội dân sự đang là vấn đề được cả giới nghiên cứu khoa học lẫn các nhà hoạch định chính sách quan tâm. Ngày nay, Xã hội dân sự có tính phổ biến, tính toàn cầu, dù rằng các dân tộc tiến đến nó một cách nhanh chậm khác nhau. Xã hội dân sự là khái niệm khá mới trong giới nghiên cứu lý luận ở nước ta. Sở dĩ được thảo luận nhiều vì trong vòng hai thập kỷ vừu qua, các tổ chức xã hội( với chức năng dân sự) đột nhiên lại đóng vai trò chính trị quan trọng, đặc biệt là các nước ở Đông Âu và các nước trong SNG( Cộng đồng các quốc gia độc lập).

Trung tâm Xã hội dân sự của Trường đại học kinh tế London định nghĩa Xã hội dân sự như sau:    Xã hội dân sự đề cập tới một mảng các hoạt động tập thể tự nguyện xung quanh các giá trị, mục tiêu, ý thích chung. Về lý thuyết, các hình thái tổ chức xã hội dân sự khác biệt hẳn với các hình thái tổ chức nhà nước, gia đình và thị trường. Nhưng trong thực tế thì, gianh giới giữa nhà nước, xã hội dân dự, gia đình và thị trường là khá lẫn lộn, mập mờ và không rõ ràng. Xã hội dân sự thường bao gồm một sự đa dạng về phạm vi hoạt động, các thành viên tham gia và các hình thái tổ chức, khác nhau về mức độ nghi lễ, tự do và quyền lực. Xã hội dân sự thường được hình thành dưới dạng các tổ chức như các hội từ thiện, các hiệp hội, các công đoàn, các nhóm tương trợ, các phòng trào xã hội, các hiệp hội kinh doanh, các liên minh, và các đoàn luật sư.

Với mối quan tâm như vậy, việc tìm hiểu Sự xuất hiện, bản chất và chức năng của Xã hội dân sự ở Việt Nam.. Giúp chúng ta có được cái nhìn sống động, dưới góc độ tiếpcận của Xã hội học, như tìm hiểu được sự xuất hiện của Xã hội dân sự của Thế giới và xuất hiện ở Việt Nam, tìm hiểu được bản chất và chức năng của Xã hội dân sự ở Việt Nam.

Bài viết này tập trung làm rõ:

-Sự xuất hiện của xã hội dân sự ở Việt Nam.

-Sự phát triển của Xã hội dân sự ở Việt Nam.

-Nhận thức về vai trò của Xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay.

– Những bất cập, vấn đề đáng quan tâm nhất.

1.Sự xuất hiện của Xã hội dân sự ở Việt Nam.

1.1Sự xuất hiện của Xã hội dân sự trên thế giới, và sự phát triển của nó trên thế giới.

Thuật ngữ “xã hội dân sự” đã xuất hiện cách đây hàng ngàn năm và trở nên tương đối thịnh hành vào thời Khai sáng. Một thời gian dài sau đó, nó ít được nhắc đến, hoặc có chăng, chỉ được giới khoa học đề cập một cách tản mạn.

Có thể do vai trò của xã hội dân sự ở Liên Xô và các nước Đông Âu trong thời kỳ chuyển đổi của những năm cuối thập niên 80, những năm đầu thập niên 90 thế kỷ XX và một vài lý do khác, nên ở nước ta, thuật ngữ xã hội dân sự ít được bàn luận vì nó thường được cho là mang hàm ý tiêu cực. Cho đến gần đây, cụm từ này đôi lúc vẫn còn được xem là nhạy cảm. Tuy nhiên, trong tiến trình dân chủ hóa ở nước ta hiện nay và trong xu thế hội nhập, “ xã hội dân sự” là thuật ngữ thường được nhắc đến và được bàn luận khá cởi mở.

Xã hội dân sự ở phương Tây có nguồn gốc từ đời sống xã hội ở Hy Lạp cổ đại: các polis Hy Lạp cổ và các đô thị La Mã cổ với những “công dân tự do ” xuất hiện lần đầu tiên trong lịch sử. Thuật ngữ xã hội dân sự, theo tiếng Hy Lạp là koinonia politiké (tiếng Pháp: société civile, tiếng Anh: civil society và trong tiếng Nga grazhdanskoe obchtsestvo, có khi nó được dịch thành xã hội công dân để nhấn mạnh đến vị trí của các công dân trong xã hội).

Nhưng ý thức xã hội dân sự thực sự có bước phát triển mạnh mẽ với những nội dung sâu sắc hơn được thể hiện trong các tác phẩm của các nhà tư tưởng xuất sắc ở thế kỷ XVI như J. Rodin (Pháp), T. Hobbes (Anh), B. Spinoza (Hà Lan) v.v.. Họ bắt đầu đưa ra sự phân biệt giữa xã hội và nhà nước, phản ảnh sự trỗi dậy của các cá nhân ở các đô thị vào buổi đầu hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản. J. Rodin, một học giả người Pháp vào thời xảy ra các cuộc chiến tranh tôn giáo, đã đưa ra nguyên lý về tính tối thượng của nhà nước. Theo ông, nhà nước có quyền tối thượng đối với tất cả các thành viên xã hội và tất cả những gì thuộc về nó. Nhà nước chỉ hình thành khi những thành viên tản mạn của xã hội thống nhất lại dưới một quyền lực thống nhất. T. Hobbes, người coi trạng thái tự nhiên của xã hội là “chiến tranh của tất cả chống lại tất cả”], cho rằng nhà nước có sứ mệnh khắc phục trạng thái đó bằng cách thiết lập một sự thỏa thuận giữa tất cả các thành viên của xã hội. Xã hội dân sự nảy sinh trên cơ sở thỏa thuận ấy được coi là đồng nghĩa với nhà nước và luật pháp do nhà nước đặt ra.

Đến thế kỷ XVIII, J. J. Rousseau, một trong những nhà Khai sáng xuất sắc nhất, đã phát triển quan điểm của Hobbes. Đối với ông, con người vì mất đi sự tự do tự nhiên của mình và cũng vì sợ mất đi cả các quyền tự nhiên của mình nên đã đi tới một khế ước xã hội. Nhờ có sự liên hiệp này mà người ta thống nhất lại với nhau trên cơ sở phục tùng những thể thức chung, nhưng mỗi người vẫn có tự do như trước đây.

  1. Hobbes, J. Locke, J. J. Rousseau, Montesquieu đều có chung quan điểm là tự do cá nhân của con người độc lập với nhà nước. Chẳng hạn, theo Locke, xã hội có trước nhà nước, nó tồn tại một cách “tự nhiên”, còn nhà nước là một “vật mới”. Nếu nhà nước vì một lý do nào đó bị xóa bỏ đi thì xã hội vẫn được duy trì bằng tất cả các luật và quyền tự nhiên của nó. Người dân hợp thành xã hội, nó là tối thượng và khi thiết lập nhà nước, tuy tính tối thượng chuyển sang nhà nước nhưng nhà nước không thể nuốt mất xã hội. Hơn thế nữa, mục đích chủ yếu của nhà nước là bảo vệ xã hội. Do đó, nhà nước không thể thay thế được xã hội, chính là nhờ có xã hội mà nhà nước có thể hoạt động được.

Cả Hobbes, Locke, Montesquieu và Rousseau đều cho rằng dân chủ chỉ có thể nảy nở trên một sự thỏa thuận mang tính khế ước giữa công dân và nhà nước, về việc hạn chế và phân chia quyền lực nhà nước để quyền lực ấy thực chất thuộc về nhân dân. Chừng nào, sự thỏa thuận ấy bị phá vỡ, chừng ấy nhân dân có quyền xác lập một khế ước mới bằng nhiều cách khác nhau, và đó cũng hoàn toàn là quyền tự nhiên của con người.

Mở đầu Khế ước xã hội, Rousseau đã phải thốt lên đau đớn rằng, “con người sinh ra là tự do, vậy mà ở khắp nơi, con người lại bị cùm kẹp”. Do vậy, cách tốt nhất để lấy lại sự tự do như là quyền tự nhiên của con người đó chính là việc cần phải tổ chức thiết chế xã hội sao cho quyền tự nhiên ấy không bị xâm phạm và tước đi một cách tùy tiện từ phía nhà nước và bộ máy công quyền.

Đối với Hobbes và Rousseau đó là sự thỏa thuận bằng khế ước xã hội, đối với Locke và Montesquieu, đó là sự phân chia quyền lực nhà nước một cách độc lập và chế ước lẫn nhau. Do đó, dân chủ gắn liền với nhà nước pháp quyền và xã hội công dân. Nền dân chủ không thể sản sinh trong một xã hội mà ở đó nguyên tắc cai trị do các cá nhân tùy tiện và thao túng. Trái lại, dân chủ là kết quả trong một xã hội được tổ chức, thiết chế, và vận hành trên nguyên tắc luật pháp và phân chia quyền lực, cũng như có sự tham gia mạnh mẽ của các thiết chế phi chính trị và phi nhà nước đóng vai trò là lực lượng xã hội đối trọng nhằm giám sát và cân bằng với thiết chế chính trị và nhà nước trong việc thực thi dân chủ.

Hegel – Nhà triết học Đức vĩ đại đầu thế kỷ XIX – đã tiếp nhận và hệ thống hóa tư tưởng xã hội – chính trị của Pháp, Anh, Mỹ và Đức trong vấn đề này. Tác phẩm Triết học pháp quyền của ông đã chứng minh rằng xã hội dân sự là một giai đoạn phát triển lịch sử mà đỉnh cao của nó là sự xuất hiện nhà nước hiện đại. Nói chính xác hơn, Hegel coi xã hội dân sự là một giai đoạn đặc biệt trong sự vận động biện chứng từ gia đình đến nhà nước, diễn ra trong quá trình biến đổi lịch sử phức tạp và lâu dài từ Trung Cổ đến Cận đại. Theo ông, đời sống xã hội hoàn toàn khác với đời sống đạo đức của gia đình và cũng khác với đời sống công cộng của nhà nước. Nó là một yếu tố cần thiết trong toàn bộ cộng đồng chính trị được tổ chức một cách hợp lý. Theo Hegel, kinh tế thị trường, các giai cấp xã hội, các nghiệp đoàn, các định chế có nhiệm vụ bảo đảm sức sống của xã hội và thực hiện các quyền công dân. Như vậy, xã hội dân sự là tập hợp của những tư nhân, tầng lớp, những nhóm và những định chế mà sự tác động qua lại của chúng được điều chỉnh bằng qui tắc của dân luật và với tư cách đó, nó không phụ thuộc trực tiếp vào nhà nước chính trị.

  1. Marx, trong các tác phẩm đầu tay, đặc biệt trong Hệ tư tưởng ÐĐức và vấn đề Do Thái, đã bàn nhiều về xã hội dân sự. Một mặt, kế thừa những luận điểm “hợp lý” của Hegel; mặt khác, ông phê phán Hegel một cách quyết liệt. Cũng như Hegel, ông từng coi xã hội dân sự là một hiện tượng lịch sử, là kết quả của sự phát triển lịch sử mà không phải là “vật ban tặng” của tự nhiên. Và cũng như Hegel, ông coi xã hội dân sự có tính chất tạm thời. Sự khác nhau cơ bản giữa Marx và Hegel là điểm xuất phát khi phân tích về bản chất của xã hội dân sự và nhà nước, về những quan hệ giữa xã hội dân sự với nhà nước. Trong khi Hegel lấy “tinh thần phổ biến” và “ý niệm tuyệt đối ” làm điểm xuất phát thì Marx lấy đời sống hiện thực, trước hết là phương thức sản xuất của xã hội, làm điểm xuất phát. “Sự giải phóng chính trị là đưa con người, một mặt, trở thành thành viên của xã hội thành cá nhân vị kỷ và độc lập, và mặt khác, trở thành công dân, thành cá nhân đạo đức”. Ông cho rằng chỉ khi nào sức mạnh con người được tổ chức thành sức mạnh xã hội và chính trị, khi đó sự giải phóng con người mới hoàn thành.

Sau một giai đoạn dường như bị “chìm” đi, hoặc có chăng, cũng chỉ là sự nghiên cứu mang tính tản mạn của các nhà khoa học, thời gian gần đây, khái niệm xã hội dân sự như được “hồi sinh” và là một phương cách trung tâm để lý giải các quá trình chính trị – xã hội diễn ra ở khắp nơi trên thế giới, kể cả các nước phương Tây cũng như các nước phương Đông.

Quá trình dân chủ hóa ở các nước phát triển phương Tây đã đi tới một giai đoạn mới: chế độ dân chủ đại diện đang mất đi sức sống và những tiền đề cho một chế độ dân chủ trực tiếp, dân chủ tham gia đang dần dần xuất hiện. Khách quan mà nói, dân chủ đại diện là một thành quả rất lớn của dân chủ, của sự phát triển xã hội về mặt chính trị và bản thân chế độ dân chủ đại diện cũng chính là một trong nhũng thành quả to lớn của xã hội dân sự, nhưng đến giai đoạn này, do nhiều lý do khác nhau, nó bắt đầu xơ cứng, kém hiệu lực. Ở một mức độ nào đó, trở thành kém dân chủ, thậm chí trở thành tấm “bình phong” và là công cụ của các nhà tư bản. Sự quan liêu trong bộ máy nhà nước không những không giảm mà còn có xu hướng tăng lên. Mặt khác, đời sống chính trị – xã hội càng phức tạp, nhà nước tư sản càng phải đặt ra nhiều qui định vi phạm quyền tự do dân chủ. Đặc biệt trong thời gian gần đây, với danh nghĩa chống bạo loạn, khủng bố, nhiều nhà nuớc tư sản ban hành các qui định, có thể nói là vi phạm nghiêm trọng các quyền con người, quyền công dân.

1.2.Xã hội dân sự xuất hiện ở Việt Nam.

Việt Nam có Xã hội dân sự chưa?

Xã hội dân sự là xã hội của tổ chức. Phải chăng trên một ý nghĩa như vậy ở Việt Nam đã có Xã hội dân sự rồi. Thời Bác hồ đã có quy định về lập hội. Nhà nước của dân… là thừa nhận đã có Xã hội dân sự rồi. Nếu hiểu Xã hội dân sự theo nghĩa đầy đủ, thì chúng ta mới có ở mức sơ khai, còn khi nào có nhà nước pháp quyền thật sự thì Xã hội dân sự mới phát triển. Không có nhà nước pháp quyền mạnh không có Xã hội dân sự mạnh và ngược lại. Cũng nên hiểu như giữa Xã hội dân sự và kinh tế thị trường.

Xã hội dân sự trên thế giới có từ rất lâu nhưng ở Việt Nam, khái niệm này còn mơ hồ mà có lý do khách quan là Việt Nam trải qua chiến tranh nhiều năm nên mối quan hệ dân sự trong xã hội bị giảm sút. Tuy nhiên, XHDS bây giờ đang nổi lên hỗ trợ cho nhà nước mà ta thường hiểu là chủ trương “xã hội hóa”.

Ở nước ta với đặc thù tiến lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa , bởi vậy , chúng ta không có cơ hội thừa hưởng những “gia tài” do CNTB để lại . Một trong những “thiệt thòi” lớn nhất đối với chúng ta là quan hệ phong kiến, những quan hệ này đáng lí đã bị CNTB loại bỏ, song trên thực tế vẫn tồn tại dai dẳng và níu kéo, cẩn trở chúng ta trên con đường phát triển và hội nhập quốc tế. Bởi thế, từ trong nhận thức và trong thực tiễn, quá trình xây dựng chế độ Nhà nước pháp quyền còn gặp nhiều trở ngại, khó khăn. Tương ứng với nó là việc nhận thức và xây dựng Xã Hội dân sự cũng không ít những cản trở.

Ở nước ta quá trình xây dựng XHDS còn nhiều bất cập, tự phát. Có nhận xét rằng dân sự mà không hoàn toàn dân sự, dân chủ nhưng không hoàn toàn dân chủ, không dộc quyền mà độc quyền. Từ nhà nước, kinh tế thị trường với những nhược điểm của nó mà xuất hiện XHDS. Nhưng XHDS ở Việt Nam đã xuất hiện tự phát. Chúng ta chưa ai có đủ khung pháp lý và không gian cho xã hội dân sự hình thành tự giác.

  1. Sự phát triển Xã hội dân sự ở Việt Nam.

Từ những năm 90 của thế kỉ XX trên phạm vi toàn cầu, cùng với việc tăng lên đáng kể vai trò  của nhà nước trong đời sống xã hội, vai trò của các CSO cũng ngày càng được khẳng định, đặc biệt trong thực hiện hóa các mục tiêu phát triển thiên niên kỉ. Phối hợp cùng với nhà nước, CSO hoạt động thực sự có hiệu quả trong việc thực hiện các mục tiêu xóa đói giảm nghèo, thực hiện sự bình đẳng giới, tăng tính minh bạch dân chủ và nhất là khuyến khích sự tham gia của người dân vào quá trình hoạch định và thực thi các chính sách phát triển kinh tế- xã hội.

Ở Việt nam, từ sau ngay miền nam hoàn toàn giải phóng, nhà nước thống nhất, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, cùng với mặt trận và các đoàn thể quần chúng, các nhóm và các các tổ chức xã hội nghề nghiệp hợp thành các CSO đã và đang đóng vai trò ngày càng tăng trong sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa, đặc biệt trong việc thực hiện quyền dân chủ nhân dân.

Từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, bắt đầu từ đổi mới tư duy chính trị, việc nhìn nhận và đánh giá các tổ chức chính trị xã hội cũng ngày càng cởi mở và thực chất hơn. Và do đó CSO cũng có cơ hội phát triển và phát huy vai trò to lớn của mình không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, chính trị.

Mặc dù, ở Việt nam, các tổ chức có thể gọi là xã hội dân sự đã có từ trong xã hội truyền thống ( dòng họ, phường hội, nghề nghiệp …) song quan niệm về thuật ngữ này không phải rõ ràng và xác thực mà trải qua một quá trình thay đổi về nội hàm khái niệm, cách diễn giải. Nhờ quá trình đổi mới, xã hội dân sự từ chỗ là một thuật ngữ, các tổ chức xã hội dân sự như NGO, NPO ra đời và tăng lên nhanh chóng về số lượng. Có thể nói quá trình hình thành và phát triển của xã hội dân sự ở Việt nam diễn ra trong bối cảnh môi trường ngày càng được thuận lợi hơn bởi sự ra đời của hệ thống luật hỗ trợ ( Luật Doanh nghiệp, Nghị định dân chủ, Nghị định về hội, … ), sự phát triển nhanh chóng của kĩ thuật thông tin mạng, sự hội nhập nghiên cứu về lĩnh vực này. Có thể nói, tính đặc thù của xã hội dân sự ở Việt nam là các tổ chức xã hội dân sự đều có liên quan phụ thuộc trực tiếp và gián tiếp với Đảng và nhà nước.

Nước ta có 6 tổ chức mà đảng cầm quyền và tuy nhà nước chi phối trực tiếp qua đường lối và kinh phái tài chính như Mặt trận tổ quốc, Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp phụ nữ, Công đoàn, Hội nông dân, Hội nhà báo nhưng nó vẫn thuộc xã hội dân sự.

Ở Việt Nam ta xã hội dân sự trong quá trình hình thành của nó sẽ thể hiện thể hiện khá rõ mạnh:

– Thấm nhuần về mặt văn hóa cộng đồng, tính đoàn kết, tương trợ và tính đồng thuận xã hội, có mầm mống trong xã hội làng xã xưa.

– Trong xã hội thực dân phong kiến cũng hình thành nên những tổ chức xã hội, hoặc để đấu tranh chính trị hoặc để bảo vệ các quyền lợi xã hội trong đời sống bình thường trước các thế lực cường quyền.

– Nhưng xã hội học dân sự ở Việt nam ngày nay còn là xã hội trong thể chế một đảng cầm quyền, nhất nguyên chính trị nên xã hội dân sự ở đây có thể cơ cấu tổ chức chính trị xã hội trong xã hội dân sự và trong hệ thống chính trị sẽ mang tính trung gian 2 mặt.

– Xã hội dân sự ở Việt nam ngày nay sẽ là dựa trên nền kinh tế nhiều thành phần cả công và cả tư, định hướng xã hội chủ nghĩa, chứ không phải xã hội dân sự mang tính chất tư bản chủ nghĩa.

– Xã hội dân sự ở Việt nam cơ bản không mang tính đối kháng trong nó và với nhà nước. Tính đồng thuận và đoàn kêt xã hội của xã hội dân sự khá cao, nhưng các tiổ chức hoạt đỘng còn phân tán, tính pháp lý chưa đủ và cần thiết.

Ở nước ta, trong công cuộc đổi mới, cùng với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và dân chủ hoá đời sống xã hội, Nhà nước đã từng bước chuyển sang thực hiện chức năng định hướng, bảo trợ, tạo lập môi trường và điều kiện thuận lợi cho người dân được tự do phát triển sản xuất kinh doanh, tổ chức cuộc sống. Nhờ đó, khu vực xã hội dân sự ngày càng có điều kiện phát triển, quan hệ xã hội của người dân được tự do, cởi mở hơn; nhu cầu giao tiếp, liên hệ giữa các cá nhân có điều kiện được thoả mãn; tính tích cực xã hội của người dân, của các đoàn thể nhân dân, các hội, tổ chức phi chính phủ, các nhóm xã hội có tư cách pháp nhân và không có tư cách pháp nhân được phát huy mạnh mẽ, góp phần vào sự phát triển của đất nước

Mặt khác, xu thế đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng đa phương hoá, đa dạng hoá trong quan hệ quốc tế đòi hỏi các quan hệ đối ngoại không chỉ được thực hiện theo con đường của Nhà nước, mà còn bằng các hình thức đối ngoại nhân dân thông qua các đoàn thể nhân dân, các hội, tổ chức phi chính phủ.

Hiện nay, ở nước ta, bên cạnh các đoàn thể nhân dân có truyền thống lịch sử gắn với quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, các hội, tổ chức phi chính phủ đã, đang được thành lập và hoạt động trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội với nhiều mô hình rất đa dạng, phong phú. Tính đến tháng 6 – 2005, đã có 320 hội hoạt động trên phạm vi toàn quốc, hơn 2.150 hội có phạm vi hoạt động tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và hàng chục vạn hội, tổ chức cộng đồng tự quản, tổ hoà giải có phạm vi hoạt động tại các quận, huyện, thị xã, thị trấn, xã, thôn, làng, ấp, bản… Đồng thời, hiện có khoảng 600 tổ chức phi chính phủ nước ngoài có quan hệ với Việt Nam, trong đó có gần 350 tổ chức có chương trình, dự án đối tác với Việt Nam. Nhiều tổ chức đang đề nghị Chính phủ Việt Nam cho lập các văn phòng đại diện, văn phòng dự án…

Ngoài các hội, tổ chức phi chính phủ được thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, còn có các hội quần chúng, tổ chức cộng đồng có tính truyền thống hoặc do người dân tự nguyện thành lập, không có tư cách pháp nhân (hay còn gọi là hội không chính thức), như tổ, nhóm tự quản, hội đồng hương… và các câu lạc bộ.

Để có thể thúc đẩy sự phát triển của xã hội dân sự ở nước ta hiện nay, trước hết cần nhận thức đúng về vai trò, vị trí của của các đoàn thể nhân dân, các hội, tổ chức phi chính phủ trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

  1. Nhận thức về vai trò của xã hội dân sự hiện nay

Trong những năm gần đây, vấn đề xã hội dân sự được giới nghiên cứu lý luận quan tâm, chú ý. Nhiều ý kiến cho rằng, trong thời đại ngày nay, xã hội dân sự là một trong ba khu vực cơ bản của xã hội, là “một đỉnh của tam giác” phát triển xã hội. Theo đó, kinh tế thị trường là điều kiện cần thiết cho sự phát triển, nhà nước pháp quyền là yếu tố quyết định trực tiếp đến sự phát triển và xã hội dân sự đảm bảo cho sự phát triển cân bằng và bền vững của xã hội.

Nội dung, phạm vi và các yếu tố cấu thành của xã hội dân sự hiện vẫn được hiểu theo nhiều cách khác nhau, nhưng nội dung cốt lõi nhất của nó chính là hệ thống các tổ chức xã hội của công dân được gắn kết bởi những nhu cầu, lợi ích chung, các giá trị hoặc truyền thống chung để tiến hành nhiều hoạt động khác nhau nhằm phối hợp với nhà nước, bổ sung cho những khiếm khuyết của nhà nước, đảm bảo sự ổn định, cân bằng và phát triển bền vững của xã hội. Xã hội dân sự là một khu vực “phi nhà nước”, bao gồm các liên hiệp, hiệp hội, hội, tổ chức cộng đồng, nhóm tình nguyện, tổ chức phi chính phủ,… thực hiện các chức năng, vai trò xã hội hoặc mục đích nghề nghiệp, từ thiện, nhân đạo… nhất định; hoạt động chủ yếu dựa trên tính tự chủ về tài chính, tự quản trong tổ chức quản lý và sự tự nguyện của các thành viên, hội viên với mục tiêu phi lợi nhuận, đa dạng về hình thức tổ chức, phong phú về mục tiêu cụ thể.

Trong lịch sử, các hình thức liên hiệp đã xuất hiện từ xa xưa, thậm chí còn có trước khi xuất hiện nhà nước. Nhưng phải đến thời đại tư bản chủ nghĩa, khi mối quan hệ giữa các cộng đồng đó được xác lập trên cơ sở chính trị – pháp lý nhất định, lúc đó xã hội dân sự mới thực sự ra đời.

Ngày nay, kinh tế thị trường đã tỏ rõ ưu thế và trở thành khuynh hướng chủ đạo trong sự phát triển của nền kinh tế thế giới. Mặc dầu vậy, nền kinh tế thị trường không phải là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi vấn đề của sự phát triển xã hội. Do bản chất của nó, kinh tế thị trường có những nhược điểm và giới hạn nhất định, nhất là trong các lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường sống. Vì vậy, để khắc phục những hạn chế đó, cần phải có sự tham gia phối hợp của nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự.

Nhà nước pháp quyền trong xu thế phát triển ngày càng có tính phổ biến của nền chính trị hiện đại đã thể hiện những ưu thế, tính hiệu quả trong việc tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước, dân chủ hóa xã hội. Nhưng, nhà nước cũng không phải là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi vấn đề của sự phát triển xã hội. Bản thân nhà nước pháp quyền cũng gặp phải những giới hạn và thách thức nhất định, như nguồn lực cần thiết để tổ chức và vận hành khá lớn, phải có những điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định và việc xây dựng nhà nước đó là một quá trình lâu dài, khó khăn và phức tạp. Mâu thuẫn giữa tính bắt buộc, quy chuẩn có giới hạn của pháp luật và sự phong phú, sinh động, đa dạng của nhu cầu mọi mặt của cá nhân cũng như của xã hội bắt đầu xuất hiện. Pháp luật là tối thượng, nhưng trong không ít trường hợp, khi đã nắm được quyền lực công, các tổ chức và cá nhân được trao quyền trở nên quan liêu, tha hóa, tự đặt mình lên trên xã hội. Thậm chí, những người cai trị “bảo đảm quyền này của họ bằng những đạo luật đặc biệt, những đạo luật khiến cho họ trở thành đặc biệt thần thánh và đặc biệt bất khả xâm phạm. Trong tình huống này, tính tối thượng của pháp luật có thể lại là mối nguy hiểm cho xã hội.

Quá trình phát triển của xã hội hiện đại cho thấy một thực tế hiển nhiên là các cơ quan nhà nước và đội ngũ công chức nhà nước, dù hết sức tận tụy cống hiến hay có tinh thần vì công chúng như thế nào đi chăng nữa, thì cũng không thể dự kiến trước được tất cả các hàng hoá công cộng và dịch vụ mà các công dân muốn có. Việc xuất hiện những biện pháp thay thế của các tổ chức quần chúng, tổ chức phi chính phủ và tư nhân có thể giúp lấp đi những khoảng trống trong việc cung cấp hàng hoá công cộng, cũng như cung cấp những hàng hoá và dịch vụ công nào mà các cá nhân muốn trả bằng tiền của riêng họ. Các đoàn thể nhân dân, các hội có thể vừa là những cộng sự, vừa là những đối thủ cạnh tranh trong việc cung cấp các dịch vụ công.

Hơn nữa, trong điều kiện ngày nay, do nhu cầu cá nhân tăng lên, sự liên kết giữa các cá nhân và cộng đồng trở nên đa dạng hơn, phạm vi hoạt động của xã hội ngày càng phát triển phong phú và mở rộng. Nhà nước không thể và không nên trực tiếp đáp ứng tất cả nhu cầu đó, mà cần phải chuyển giao dần một phần công việc này cho các tổ chức thuộc khu vực xã hội dân sự. Trên thực tế, nhiều việc giao cho các tổ chức xã hội – nghề nghiệp quản lý lại có hiệu quả hơn vì tính chất linh hoạt, năng động, sát thực tế công việc và đảm bảo tính khách quan hơn, ví dụ như chức năng tư vấn, phản biện, giám định xã hội đối với các lĩnh vực chuyên môn nghề nghiệp…

Những giới hạn của nhà nước nêu trên chỉ có thể được khắc phục một cách hiệu quả khi xây dựng và phát triển xã hội dân sự, tức là phát huy vai trò của xã hội dân sự, huy động sự tham gia rộng rãi của người dân và cộng đồng vào công việc xã hội, mà tựa hồ như đã trao cho nhà nước và được coi là chức năng cơ bản, cơ sở của sự thống trị chính trị của nhà nước.

Chức năng của xã hội dân sự bao gồm: thứ nhất, là cầu nối, kênh truyền dẫn tiếng nói, nguyện vọng của người dân đến với nhà nước hay nói cách khác, là xã hội hóa các cá nhân, nối cá nhân với hệ thống xã hội; thứ hai, tham gia hoạch định các chủ trương, chính sách của nhà nước, phối hợp với nhà nước trong hoạch định, thực hiện và giám sát thực hiện các chính sách, góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp lý: thứ ba, tổ chức phản biện xã hội đối với các chủ trương, chính sách cũng như việc thực hiện chính sách, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, kiểm soát và giám sát phẩm chất, hành vi của đội ngũ công chức nhằm góp phần chống quan liêu, tham nhũng, nâng cao hiệu lực và hiệu quả của nhà nước: thứ tư, phát huy các nguồn lực và tính năng động, sáng kiến của các tầng lớp dân cư, tham gia hoạt động cung cấp dịch vụ công như giáo dục, y tế, văn hoá, khoa học, bảo vệ môi trường, xoá đói giảm nghèo,… tạo điều kiện nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi người và của toàn xã hội.

Cả bốn chức năng trên đều quan trọng và có quan hệ chặt chẽ với nhau. Việc xem nhẹ một trong các chức năng đó biểu hiện sự nhận thức không đúng về vai trò, chức năng của xã hội dân sự và ảnh hưởng đến sự ổn định, phát triển của xã hội.

Mục tiêu của xã hội dân sự hiện đại là phát triển và hoàn thiện con người, coi đó là điều kiện để phát triển cộng đồng, xã hội và nhân loại. Sự phát triển của xã hội dân sự hướng tới những giá trị tiến bộ chung của nhân loại; đồng thời, phụ thuộc vào tính giai đoạn, đặc điểm lịch sử cụ thể của từng nước cũng như hình thức, kiểu nhà nước và hệ thống chính trị của mỗi quốc gia.

Tuy nhiên, xã hội dân sự là một khu vực không thuần nhất, tính đồng thuận không cao và thiếu tính nhất quán. Mặt khác, bản thân xã hội dân sự cũng có những giới hạn và gặp phải một số thách thức nhất định, đó là khi các hiệp hội, hội, tổ chức cộng đồng chỉ chăm lo đến lợi ích cục bộ của mình mà không quan tâm đến lợi ích toàn xã hội. Khi đó, tính tự chủ, tự nguyện và tự quản của xã hội dân sự sẽ có nguy cơ tạo ra các “lệ” riêng, cản trở việc thực thi chính sách và pháp luật của Nhà nước, hạn chế sự phát triển chung của xã hội. Vì vậy, các thể chế của xã hội dân sự cần phải được quản lý và định hướng bằng pháp luật của nhà nước, nhằm tạo ra một môi trường dân chủ, lành mạnh cho sự phát triển hài hoà của toàn xã hội. Nói cách khác, điều kiện để hình thành một xã hội dân sự lành mạnh là phải có một nhà nước pháp quyền vững mạnh, có hiệu lực và hiệu quả để xây dựng khung pháp luật, tạo môi trường thuận lợi, bảo vệ và trợ giúp cho xã hội dân sự, phục vụ xã hội dân sự.

Ở nước ta, trong công cuộc đổi mới, cùng với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và dân chủ hoá đời sống xã hội, Nhà nước đã từng bước chuyển sang thực hiện chức năng định hướng, bảo trợ, tạo lập môi trường và điều kiện thuận lợi cho người dân được tự do phát triển sản xuất kinh doanh, tổ chức cuộc sống. Nhờ đó, khu vực xã hội dân sự ngày càng có điều kiện phát triển, quan hệ xã hội của người dân được tự do, cởi mở hơn; nhu cầu giao tiếp, liên hệ giữa các cá nhân có điều kiện được thoả mãn; tính tích cực xã hội của người dân, của các đoàn thể nhân dân, các hội, tổ chức phi chính phủ, các nhóm xã hội có tư cách pháp nhân và không có tư cách pháp nhân được phát huy mạnh mẽ, góp phần vào sự phát triển của đất nước.

Mặt khác, xu thế đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng đa phương hoá, đa dạng hoá trong quan hệ quốc tế đòi hỏi các quan hệ đối ngoại không chỉ được thực hiện theo con đường của Nhà nước, mà còn bằng các hình thức đối ngoại nhân dân thông qua các đoàn thể nhân dân, các hội, tổ chức phi chính phủ.

Nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức quần chúng, các hội trong sự nghiệp đổi mới đất nước, ngay từ năm 1990, trong Nghị quyết số 8B-NQ/ HNTW (khoá VI), Đảng ta đã chủ trương: “Trong giai đoạn mới, cần thành lập các hội đáp ứng nhu cầu chính đáng về nghề nghiệp và đời sống nhân dân hoạt động theo hướng ích nước, lợi nhà, tương thân, tương ái. Các tổ chức hội quần chúng được thành lập theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản và tự trang trải về tài chính trong khuôn khổ pháp luật”. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng định: “Mở rộng và đa dạng hoá các hình thức tập hợp nhân dân tham gia các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội, các hội nghề nghiệp, văn hoá, hữu nghị, từ thiện – nhân đạo…

  1. Những bất cập, vấn đề đáng quan tâm nhất.

Không thể có “xã hội dân sự” nếu không có “Nhà nước pháp quyền”, ngược lại, “nhà nước pháp quyền”không thể hoạt động tốt, nếu không có “xã hội dân sự”.

Phải mất một thời gian dài, ở nước ta “nhà nước pháp quyền” mới được dần dần nói đến và rồi định hình với Đại hội VIII. Nhưng ngay khi “Nhà nước pháp quyền” đã được khẳng định bằng cách thêm vào đó một cái đuôi “xã hội chủ nghĩa” cho an tâm, thì cái “nhà nước pháp quyền XHCN” ấy vẫn còn kiêng dè, e ngại với cái gọi là “xã hội dân sự”.

Xã hội dân sự nổi bật lên với nhiều tác dụng nhưng tóm tắt lại, điều quan trọng nhất cần hiểu rõ, thì đó chính là đối tác bình đẳng của Nhà nước chứ không phải là cái đuôi của Nhà nước. Nó giữ vai trò là “đối quyền của quyền lực Nhà nước”, mà về thực chất, là tạo điều kiện để người dân thực sự tham gia vào việc hoạch định, thực hiện và giám sát các chủ trương và chính sách của Nhà nước, thực hiện trách nhiệm phản biện xã hội đối Nhà nước, kể cả phẩm chất và hành vi của viên chức Nhà nước.

Để hiểu cho đúng, không e ngại về “xã hội dân sự”, phải hiểu kỹ về “nhà nước pháp quyền”. Quốc hội, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, đặt vấn đề nghiên cứu về “Xã hội dân sự và việc tham gia của các tổ chức xã hội vào quy trình lập pháp của Quốc hội”, chủ đề của một Hội thảo khoa học do Văn phòng Quốc Hội, Trung tâm Thông tin, Thư viện và Nghiên cứu Khoa học phối hợp với Dự án Hỗ trợ thể chế cho Việt Nam của Ủy ban Châu Âu tổ chức là một ghi nhận rất đáng mừng. Vì như vậy là vấn đề “xây dựng xã hội dân sự” đã chính thức đi vào đời sống pháp lý nói riêng và đời sống xã hội – chính trị của đất nước, khi mà tiến trình hội nhập đi vào chiều sâu, đánh dấu một cột mốc trong quá trình dân chủ hóa xã hội đang diễn ra.

  1. Kết luận

Như vậy:

Xu thế toàn cầu xã hội dân sự hiện đại đang diễn ra. Quá trình toàn cầu hoá đã thúc đẩy các luồng di chuyển tư bản, vốn, tư nhân hoá, tự do hoá thương mại, đầu tư nước ngoài, cải cách thuế và đảm bảo quyền sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, giao lưu văn hoá, khoa học, công nghệ và giáo dục. Trong quá trình này, mô hình kinh tế thị trường ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế của các quốc gia. Tuy nhiên, hạn chế lớn của toàn cầu hoá là các vấn đề bất bình đẳng, ô nhiễm môi trường, buôn bán trẻ em quốc tế, quyền con người, sức khoẻ cộng đồng, cũng mang tính quốc tế hoá mà bản thân thị trường quốc tế không có cơ chế giải quyết được. Trong khi đó, một số nhà nước thì gặp nhiều khiếm khuyết như nạn tham nhũng, bộ máy hành chính kém hiệu quả, không giải quyết được các hạn chế của toàn cầu hoá và các vấn đề liên quốc gia liên vùng. Chính vì thế có xu thế hình thành nên các tổ chức CSO quốc tế, NGO, NPO…

Hiện nay, xã hội dân sự đang có sự phát triển lớn cả về số lượng và chất lượng, điều này đang chứng tỏ vai trò to lớn và cần thiết của chúng. Ở Việt nam, các tổ chức  đang trong qúa trình hình thành và phát triển, tuy còn chưa có tính độc lập tương đối và khoảng cách rõ ràng đối với nhà nước nhưng về cơ bản các tổ chức dân sự vẫn thực hiện tốt vai trò và chức năng của mình, nâng cao tính dân chủ của nhà nước ta.

Khi đi sâu tìm hiểu Sự xuất hiện, phát triển và nhận thức về vai trò của Xã hội dân sự ở Việt Nam các tổ chức dân sự khi ra đời đều không mang tính lợi nhuận, kinh tế và có nguồn gốc phi chính trị.

Trong điều kiện ngày nay, do nhu cầu cá nhân tăng lên, sự liên kết giữa các cá nhân và cộng đồng trở nên đa dạng hơn, phạm vi hoạt động của xã hội ngày càng phát triển phong phú và mở rộng. Nhà nước không thể và không nên trực tiếp đáp ứng tất cả nhu cầu đó, mà cần phải chuyển giao dần một phần công việc này cho các tổ chức thuộc khu vực xã hội dân sự. Trên thực tế, nhiều việc giao cho các tổ chức xã hội – nghề nghiệp quản lý lại có hiệu quả hơn vì tính chất linh hoạt, năng động, sát thực tế công việc và đảm bảo tính khách quan hơn, ví dụ như chức năng tư vấn, phản biện, giám định xã hội đối với các lĩnh vực chuyên môn nghề nghiệp…

Để có thể thúc đẩy sự phát triển của xã hội dân sự ở nước ta hiện nay, trước hết cần nhận thức đúng về vai trò, vị trí của của các đoàn thể nhân dân, các hội, tổ chức phi chính phủ trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

 

  1. “ Xã hội dân sự ở khu vực Đông Á”, TS Vũ Minh Chi, Viện nghiên cứu Con người- Viện khoa học xã hội Việt nam.
  2. “ Sự biến đổi Xã hội dân sự trong một đất nước Việt nam đang chuyển mình”, TS Vũ Minh Chi. Viện nghiên cứu Con Người- Viện khoa học xã hội Việt nam.
  3. “ Xã hội công dân và xã hội dân sự : từ Arixtot đến Heefghen”, ThS Trần Tuấn Phong, Viện Triết học- Viện khoa học xã hội Việt nam.
  4. “ Xã hội dân sự : Khái niệm và các vấn đề”, TS Bùi Quang Dũng, Viện xã hội xã học- Viện khoa học xã hội Việt nam.
  5. Tài liệu Xã hội học chính trị, S Nguyễn Văn Đáng.
  6. Những nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nxb Chính trị quốc gia.

7. Tạp chí KHPL số1(38)/2007 : Vài nét về Xã hội dân sự trong lịch sử và kinh nghiệm đối với nước ta.

ThS. Luật học, ĐH Luật Vũ Văn Khiêm Tp. Hồ Chí Minh.

8.Tạp chí Triết học.

9.Tạp chí Xã hội học.

10.Xã hội học.( Lê Ngọc Hùng, Phạm Tất Dong)

11.Tạp chí Nghiên cứu con người, số 4 năm 2009

 12.http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2009/04/10/2633/

Chính phủ Úc đòi thả Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Văn Đài và Cấn Thị Thêu

SBTN | 09.01.2017
Phúc đáp văn bản của dân biểu quốc hội Úc, ông Chris Hayes, bà ngoại trưởng Julie Bishop cho biết, chính phủ Úc vẫn đang tiếp tục theo dõi vụ nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam bắt giam các nhà vận động dân chủ, blogger Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, luật sư Nguyễn Văn Đài và bà Cấn Thị Thêu.

Ngoại trưởng Julie Bishop xác nhận tin nói rằng tòa đại sứ Úc tại Hà Nội đã gửi một công văn đến lãnh đạo nhà nước Cộng sản Việt Nam, đòi phóng thích bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, tức Mẹ Nấm ngay lập tức, và cho rằng bà cần được tiếp xúc với luật sư biện hộ trong lúc bị giam giữ.

Tại hội nghị Đối thoại Nhân quyền Úc và Việt Nam, tổ chức tại Hà Nội ngày 4 tháng Tám năm 2016, đoàn đại diện của Úc đã đặt vấn đề liên quan đến trường hợp của luật sư Nguyễn Văn Đài và bà Cấn Thị Thêu. Ngoại trưởng Julie Bishop cũng cho rằng tất cả các tư nhân lương tâm bị giam giữ hiện nay trong tù cần phải được đối xử theo chuẩn mực quốc tế, trong đó có việc cho phép họ tiếp xúc với thành viên trong gia đình, bác sĩ săn sóc sức khoẻ và luật sư biện hộ.

Vẫn theo bà ngoại trưởng, chính phủ Úc cam kết sẽ tiếp tục làm việc với nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam và các cộng đồng quốc tế để thúc đẩy nhân quyền tại Việt Nam. Văn bản của Bộ Ngoại giao Úc cho hay sẽ tiếp tục vận động để nhà nước Việt Nam phóng thích các ông bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, luật sư Nguyễn Văn Đài và Cấn Thị Thêu kể cả việc phải đối xử nhân đạo trong khi đang giam giữ họ.

Song Châu / SBTN

Thêm một vụ công an đánh người đến thương tích

RFA | 08.01.2017
Công an huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang mới đây đã vô cớ vây bắt và đánh 5 người, khiến 2 người phải nhập viện cấp cứu.

Tường thuật của báo Tuổi Trẻ ngày 07/01/2017 cho biết, vào khoảng 17:30 ngày 2-1, 3 người xông vào nhà bà Nguyễn Thị Sáu (55 tuổi) ở ấp Mỹ Thành, xã Định Mỹ, huyện Thoại Sơn, An Giang.

Lúc này, anh Lê Minh Hoàng (35 tuổi, con bà Sáu, có nhà sát vách) bước qua và xảy ra cãi vã với 3 người này. Sau đó, Hoàng dùng xe 3 bánh trẻ con đuổi nhóm này đi.

Khoảng 30 phút sau, Công an xã Định Mỹ huy động gần 10 người mặc quân phục bao vây nhà bà Sáu và Hoàng với lý do Hoàng “chống người thi hành công vụ”.

Khi Hoàng vừa bước ra thì 2 công an xã lao vào quật ngã Hoàng, còng hai tay ra phía sau, lôi ra giữa đường phía trước nhà và đánh đập.

Lúc này, Lê Minh Trung (30 tuổi, con trai bà Sáu) vừa tắm xong bước ra cũng bị công an xã dùng dùi cui, ba trắc đánh ngã rồi còng tay, đưa đi.

Nhóm công an này còn bắt thêm 3 người mà không rõ lý do là Lê Hữu Nghị (28 tuổi), Nguyễn Văn Khang và Lê Hữu Tân (đều 23 tuổi). Đến khoảng 21g cùng ngày mới thả về.

Sau khi được Công an thả ra, gia đình đã đưa 2 anh Hoàng và Trung đi cấp cứu tại bệnh viện An Giang. Tại đây các bác sĩ đã khuyên gia đình đưa anh Hoàng lên bệnh viện Chợ Rẫy Sài Gòn để chữa trị vì các vết thương quá nặng.

Theo xác nhận của các bác sĩ Bệnh viện Chợ Rẫy thì Hoàng bị “chấn thương đầu và chấn thương phần mền cổ”. Hiện tại Hoàng mới chuyển qua điều trị tại Bệnh viện chấn thương chỉnh hình, còn Trung đang nằm ở Bệnh viện An Giang.

Trao đổi với Tuổi Trẻ chiều 7-1, đại tá Nguyễn Văn Hiếu, trưởng Công an huyện Thoại Sơn, cho biết ngay sau khi xảy ra vụ việc, Công an huyện đã cử cán bộ điều tra toàn bộ vụ việc, lấy lời khai các bên và nhân chứng, xác định trong vụ này công an xã đã sai.

Phó Thủ tướng yêu cầu kiểm soát Formosa trước khi cho hoạt động

RFA | 09.01.2017
Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng yêu cầu Bộ Tài nguyên Môi trường phải tiếp tục kiểm soát chặt chẽ nhà máy thép Formosa Hà Tĩnh, chỉ khi đáp ứng các điều kiện mới cho phép hoạt động.

Ông Trịnh Đình Dũng đã khẳng định như vừa nêu khi tham dự Hội nghị trực tuyến toàn quốc ngày 9/1 của ngành tài nguyên môi trường, để tổng kết năm 2016 và triển khai hoạt động năm 2017.

Theo đó, đối với nhà máy thép Formosa Hà Tĩnh, Bộ Tài nguyên Môi trường sẽ phải kiểm soát chặt chẽ việc đầu tư về công nghệ sản xuất, công nghệ xử lý môi trường, công tác quản lý môi trường.

Được biết Nhà máy thép Formosa Hà Tĩnh hồi tháng 4 năm ngoái đã xả thải không qua xử lý ra môi trường biển, gây ra thảm họa môi trường 4 tỉnh ven biển miền Trung từ Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng trị tới Thừa Thiên Huế và bồi thường cho chính phủ Việt Nam 500 triệu USD.

Thảm họa môi trường đã làm hàng trăm ngàn ngư dân và gia đình 4 tỉnh miền Trung mất việc làm, mất sinh kế và cho đến nay hoạt động nghề biển vẫn chưa thể hồi phục.

Tuy nhiên, trong 10 sự kiện môi trường hàng đầu của năm 2016 mà Bộ Tài Nguyên- Môi trường công bố vào đầu tháng 1 vừa qua, không có thảm họa môi trường do Formosa gây nên như vừa nêu.

Học sinh trường tiểu học Phúc Thành biểu tình phản đối nhà trường lạm thu

SBTN | 08.01.2017
Vào lúc 8 giờ 30 sáng ngày 09 tháng 01 năm 2017, khoảng 60 em học sinh và gần 200 phụ huynh học sinh Trường tiểu học số 1 Phúc Thành, Yên Thành, Nghệ An đã nghỉ học, biểu tình trước cổng trường nhằm phản đối ban giám hiệu thu tiền học tăng tiết 2 buổi/ngày.

Phụ huynh và các em học sinh vẫn mang cặp tới trường, nhưng không vào học. Họ đứng trước cổng trường để biểu tình ôn hòa để phản đối ban giám hiệu nhà trường lạm thu các khoản đóng góp trong năm học 2016-2017. Các em học sinh đã cầm các banner có biểu ngữ: “Yêu cầu Bộ giáo dục về thanh tra” , “Phản đối lạm thu trong giáo dục”, “Yêu cầu hủy bỏ thu tiền học tăng tiết 2 buổi/ngày”. Các em hô lớn các khẩu hiểu: “Phản đối cô hiệu trưởng nhốt học sinh”, “Yêu cầu không thu tiền học tăng tiết”,…

Công an xã Phúc Thành, chủ tịch xã, công an huyện Yên Thanh đã theo dõi tình hình, yêu cầu phụ huynh cùng các em học sinh giải tán không nên tiếp tục biểu tình.

Ông Lưu Xuân Tiến, phó chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Yên Thành đã xuống gặp phụ huynh học sinh, và hứa sẽ giải đáp mọi thắc mắc vào sáng Thứ Bảy 14/01/2017 tại trường.

Được biết, phụ huynh các em học sinh cũng đã làm đơn tố giác về sự việc này tới Phòng Giáo Dục Huyện Yên Thành và các cấp. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có văn bản nào trả lời.

Trong khi đó, Ban giám hiệu nhà trường không cho các em học sinh tới trường học buổi chiều và học sinh nào tới thì bị nhốt vào một phòng riêng và có những lời nói đe dọa khiến các em sợ hãi. Một phụ huynh cho biết: “Chúng tôi vẫn đăng ký cho con em mình học 2 buổi/ngày, nhưng chưa đồng ý đóng khoản tiền 90.000đ/hs/ngày vì chúng tôi đang làm đơn yêu cầu Bộ giáo dục trả lời vấn đề này. Tuy nhiên, cô hiệu trưởng đã không cho con em đi học, và còn cấm các em thi học kỳ môn Tiếng Anh nữa.”

Như SBTN đã đưa tin, đầu năm học 2016-2017, Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo đã ra công văn cấm các trường tiểu học dạy thêm dưới bất kỳ mọi hình thức, và dạy học 2 buổi/ngày để tăng chất lượng dạy và học. Sở giáo dục và đào tạo các tỉnh Hà Tĩnh, Thanh Hóa,… cũng đã cấm các trường trên địa bàn thu tiền học 2 buổi/ngày và cấm dạy thêm đối với học sinh tiểu học. Tuy nhiên, các trường tiểu học trên địa bàn huyện Yên Thành nói riêng, và tỉnh Nghệ An nói chung vẫn thu tiền học tăng tiết 2 buổi/ngày 90.000đ/hs/tháng, làm cho phụ huynh các em bất bình.
Nguyên Nguyễn/SBTN

Hội nhà báo CSVN tổ chức giải báo chí về phòng chống tham nhũng

SBTN | 07.01.2017
Một cuộc thi báo chí về đề tài phòng chống tham nhũng vừa được loan báo tại Việt Nam, và dự trù sẽ được tổ chức hàng năm, trong thực trạng tham nhũng đã trở thành quốc nạn.

Cuộc thi “Báo chí với công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí” do Hội Nhà Báo Việt Nam và ban thường trực ủy ban trung ương mặt trận tổ quốc đồng tổ chức. Cuộc thi này được cho là nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhắm vào các viên chức, đảng viên và nhân dân để tăng cường nỗ lực đấu tranh phòng chống mọi hình thức của nạn tham nhũng, tiêu cực và lãng phí đã thành tiêu biểu trong guồng máy chính quyền dưới chế độ độc đảng toàn trị của CSVN.

Các nhà báo chuyên nghiệp và nghiệp dư ở Việt Nam hoặc ở nước ngoài đều có thể tham gia cuộc thi. Mỗi tác giả hoặc nhóm tác giả có thể nộp tối đa 5 tác phẩm báo chí để dự thi. Các tác phẩm này phải được các phương tiện truyền thông ở Việt Nam sử dụng từ ngày 1 tháng 1 cho đến ngày 30 tháng 11 năm 2017.

Mặc dù cuộc thi được nói là nhằm “mở rộng dân chủ, công khai, minh bạch”, ban tổ chức cho biết cuộc thi báo chí được thực hiện “theo tinh thần của nghị quyết trung ương 3, khóa 10, về tăng cường sự lãnh đạo của đảng cộng sản đối với công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí”. Mà ai cũng biết đảng CSVN đã hoàn toàn bất lực trong việc chống tham những trong nhiều năm qua, vì chính các quan chức lãnh đạo cao cấp của đảng là những kẻ tham nhũng.

Trong năm 2015, CSVN đã cách chức tổng biên tập báo Người Cao Tuổi là ông Kim Quốc Hoa, khởi tố điều tra ông này vì những loạt bài viết chống tham nhũng đăng trên báo Người Cao Tuổi.

Huy Lam / SBTN

Tuyên giáo CSVN đổ lỗi ‘môi trường bẩn’ không thu hút trí thức Việt kiều

SBTN | 06.01.2017
Một nghị định của chính phủ CSVN nhằm thu hút nhân tài người Việt từ nước ngoài trở về làm việc, đã có hiệu lực từ năm 2014. Nhưng sau 2 năm, không một chuyên gia nào về Việt Nam làm việc dưới chính sách này.

Các quan chức ngành tuyên giáo cộng sản Việt Nam cho là do môi trường kinh tế và chính trị Việt Nam “bẩn”, nên trí thức hải ngoại hoàn toàn quay mặt đi. Theo báo Tiền Phong, đó là nhận định của ông Nguyễn Văn Vẻ, phó trưởng ban tuyên giáo, ủy ban trung ương mặt trận tổ quốc CSVN, tại một hội nghị do Liên Hiệp Các Hội Khoa Học Và Kỹ Thuật Việt Nam tổ chức hôm 28 tháng 12 vừa qua.

Tại hội nghị này, các chuyên gia trích dẫn số số liệu của Bộ Ngoại Giao CSVN cho biết, hiện nay có hơn 4.5 triệu người Việt sinh sống và làm việc tại trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có khoảng 300,000 người được kể vào thành phần trí thức. Giải thích cho việc trí thức hải ngoại không về nước làm việc, Tiến sĩ Hoàng Văn Kể, chủ tịch Hiệp Hội Khoa Học Kỹ Thuật Hải Phòng, cho biết nhiều thương gia và chuyên gia hải ngoại đã từng trở về đầu tư những dự án lên tới cả triệu Mỹ kim. Nhưng họ bị hệ thống thư lại của Việt Nam hành hạ nhiều quá, nên đành chấp nhận phá sản và bỏ đi. Ông Kể- người cũng từng làm phó chủ tịch ủy ban thành phố Hải Phòng- nói rằng các quan chức đương thời nên nghiên cứu xem ông Hồ Chí Minh xưa kia đã thu hút trí thức nước ngoài về như thế nào để bắt chước làm theo.

Tưởng cũng nên biết, triết gia Trần Đức Thảo, người từng bị Hồ Chí Minh “thu hút” về nước phục vụ cho chế độ cộng sản Bắc Việt, đã để lại cuốn hồi ký mang tựa đề “Những Lời Trăng Trối”, trong đó có đề cập đến cách đối xử phũ phàng của Hồ Chí Minh đối với giới trí thức Việt Nam thời sau năm 1945.

Huy Lam / SBTN

Hội đồng xét xử Pleiku ngồi yên chứng kiến nữ luật sư và thân chủ bị hành hung

SBTN | 06.01.2017
Liên Đoàn Luật Sư Việt Nam đang yêu cầu cả công an lẫn viện kiểm sát thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, có hành động pháp lý đối với những kẻ đã hành hung một nữ luật sư và thân chủ của bà, ngay tại tòa, trước sự chứng kiến thụ động của hội đồng xét xử.

Theo báo Pháp Luật, hôm 5 tháng 1, phó chủ nhiệm Liên Đoàn Luật Sư Việt Nam Phan Trung Hoài có công văn gửi cho cơ quan điều tra công an và viện kiểm sát thành phố Pleiku, đề nghị khởi tố vụ án, theo yêu cầu của luật sư Võ Thị Tiết thuộc Đoàn Luật Sư Bình Định. Trước đó, luật sư Tiết đã có đơn yêu cầu khởi tố bà Diệp Thị Khánh Cúc, cùng một số người đã đánh bà gây thương tích nặng tại tòa án thành phố Pleiku.

Bà Cúc là một bên trong một vụ kiện dân sự, và luật sư Tiết đại diện cho bên kia. Vụ hành hung xảy ra hôm 20 tháng 12, trong phiên tòa do thẩm phán Nguyễn Thị Ngà làm chủ tọa. Khi phiên tòa sắp bước vào phần thủ tục thì bà Cúc cho người hành hung ông Thiện, thân chủ của luật sư Tiết. Luật sư Tiết liền báo cáo sự việc, nhưng hội đồng xét xử không hề có biện pháp can thiệp. Sau khi bị đánh, ông Thiện được công an phường La Kring đưa đi khỏi tòa án. Sau đó, trong khi hội đồng xét xử nghị án, bà Cúc và một số kẻ lạ mặt xông tới đánh luật sư Tiết, nhưng không một nhân viên nào của tòa án can thiệp. Kết quả là nữ luật sư Võ Thị Tiết phải vào bệnh viện cấp cứu với nhiều vết thương ở vai, mạn sườn, cánh tay, gãy hai răng và sưng vùng đỉnh đầu bên trái.

Được biết công an phường Ia Kring, thành phố Pleiku, đã nhận đơn trình báo và tố giác tội phạm của nạn nhân từ ngày 26 tháng 12. Nhưng cho đến khi Liên Đoàn Luật Sư Việt Nam có yêu cầu hôm 5 tháng 1, toàn bộ hệ thống công quyền của thành phố Pleiku vẫn chưa có một hành động nào.

Huy Lam / SBTN

Dư luận phản đối mạnh khi Bộ Bộ Tài Nguyên & Môi Trường không đưa thảm họa Formosa vào Top 10

SBTN | 06.01.2017
Vào ngày 06 tháng 01 năm 2016, Bộ Tài Nguyên và Môi Trường đã đưa ra cái gọi là 10 sự kiện nổi bật liên quan đến môi trường trong năm 2016. Thật trớ trêu, thảm họa môi trường do Formosa gây ra hồi tháng 04/2016 đã không lọt vào danh sách này, vì không năm trong “tiêu chí xét tuyển”!

Ông Trần Hồng Hà, bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi Trường đã ký ban hành quyết định công bố 10 sự kiện nổi bật của ngành trong năm 2016, theo cái nhìn của chính quyền CSVN, đại khái bao gồm:

“1. Ban hành Chương trình hành động của đảng bộ Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện Nghị quyết Đại hội đảng lần thứ XII .

Hội nghị trực tuyến của chính phủ về công tác bảo vệ môi trường và ban hành chỉ thị về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách về bảo vệ môi trường.
Lần đầu tiên, quy hoạch tổng thể mạng lưới đo đạc tài nguyên và môi trường quốc gia.
Quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đến năm 2020..
Việt Nam tham gia Diễn đàn Tăng trưởng xanh toàn cầu (3GF).

….

Theo Vnexpress, lý giải vì sao sự kiện thảm họa môi trường do Formosa lại không thuộc vào top 10, ông Vũ Minh Sơn (Vụ trưởng thi đua – khen thưởng và tuyên truyền, Bộ Tài nguyên) cho biết, 10 sự kiện của ngành dựa vào 4 tiêu chí: Thứ nhất phải mang tính chất tiêu biểu, đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp phát triển ngành và đất nước. Thứ hai, sự kiện phải được tổ chức trên quy mô lớn, ý nghĩa chính trị và phạm vi tác động sâu rộng. Thứ ba, sự kiện diễn ra lần đầu được xã hội đánh giá cao. Thứ 4, phải tạo được sự chuyển biến mang tính đột phá cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Ông Vũ Minh Sơn cho biết: “Dựa vào các tiêu chí trên thì sự cố môi trường biển miền Trung không nằm trong lựa chọn bình xét. Bên cạnh đó, về thời gian phải là sự kiện đã kết thúc trong năm, trong khi việc khắc phục thảm họa môi trường do Formosa gây ra vẫn còn tiếp diễn”.

Dư luận trong nước đã vô cùng tức giận, sau khi Bộ Bộ Tài Nguyên và Môi Trường công bố cái gọi là 10 sự kiện nổi bật của họ. Nhiều nhà hoạt động trong nước đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ.

Trả lời BBC, Giáo sư Nguyễn Đình Cống cho hay: “Tôi có nghe một số ý kiến nói rằng vụ tổng kết sự kiện của Bộ Tài nguyên rõ là thành tích [thì] quan hưởng, còn tai họa [thì] dân chịu. Họ còn nói rằng Bộ trưởng Trần Hồng Hà thật đáng xấu hổ khi ký duyệt bản công bố này. Ngoài ra, tôi còn thấy bộ trưởng cũng như nhiều quan chức Việt Nam xem thường dư luận và người dân quá. Chắc họ cứ nghĩ người ta không biết gì, nên quen thói nói sao nghe vậy. Đấy là kiểu [tuyên truyền] cũ lắm rồi. Dân trí bây giờ khác rồi, người ta hiểu được tại sao có thảm họa cá chết nên không lừa bịp họ được đâu.”

Nguyên Nguyễn/SBTN

Tư gia luật sư Trần Thu Nam bị ném sơn trộn mắm tôm

RFA | 06.01.2017
Luật sư Trần Thu Nam, một người được biết đến trong tư cách nhà hoạt động xã hội tích cực tại Hà Nội, vào nửa đêm hôm qua, tư gia ông bị ném sơn trộn mắm tôm. Đây là tình trạng từng xảy ra đối với một số nhà hoạt động khác tại Việt Nam lâu nay.

Sau khi xảy ra vụ việc đối với gia đình ông, luật sư Trần Thu Nam cho Đài Á Châu Tự do biết:

“Tôi đang ngồi làm việc lúc đó khoảng lúc 0:00 giờ. Không biết đối tượng nào, nhưng khi tôi mở cửa ra thì họ chạy mất rồi. Sơn trộn mắm tôm ném vào trong cửa nhà tôi. Ngay sau đó tôi báo cho Công an Phường Yên Hòa; ngay sau đó họ đến xác định và chụp ảnh hiện trường, lập sơ đồ. Nói chung làm các công việc ban đầu.

Họ hứa sẽ đi trích xuất hình ảnh từ các camera của những nhà chung quanh để xác minh xem có đối tượng nào hay không.”

Luật sư Trần Thu Nam và một đồng nghiệp là luật sư Lê Văn Luân vào đầu tháng 11 năm 2015 từng bị một nhóm côn đồ hành hung dã man sau khi đến tư vấn pháp lý cho gia đình của một nạn nhân bị chết trong trại tạm giam Công an Hà Nội là Đỗ Đăng Dư. Gia đình nạn nhân Đỗ Đăng Dư ở tại xã Đông Phương Yên, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.

Vụ việc hành hung hai thành viên trong Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội như thế được luật sư Trương Trọng Nghĩa, đại biểu quốc hội nêu ra với ông Nguyễn Đức Chung, lúc bấy giờ là giám đốc Công an, phó bí thư Hà Nội. Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Công an Hà Nội sau đó cho khởi tố vụ án; thế nhưng luật sư Trần Thu Nam lên tiếng tha thứ cho những người hành hung ông và luật sư Lê văn Luân. Ông nhắc lại cũng như đưa ra ý kiến cho lần bị sách nhiễu này:

“Lần trước tôi bị đánh, qua sức ép của dư luận họ cũng đã khởi tố; nhưng sau đó tôi thấy những thanh niên đó không có thù hằn gì trực tiếp, va chạm gì trực tiếp già cả nên tôi đã rút đơn đối với những thanh niên đã hành hung tôi và một luật sư khác.

Đối với sự việc lần này, tôi hy vọng công an sẽ làm khách quan hơn; nhưng tôi e rằng cũng khó điều tra, xác minh ược bởi vì liên quan đến nhiều hoàn cảnh, vấn đề rất phức tạp của xã hội. Do đó tôi cũng thấy khó có hy vọng điều tra ra được ai là người gây ra vụ việc lần này.”

Tình trạng những người tham gia các tổ chức xã hội dân sự, công khai hoạt động vì công bằng xã hội, lên tiếng cho dân chủ- nhân quyền tại Việt Nam lâu nay thường bị sách nhiễu; nhẹ là bị ném mắm tôm trộn phân, dầu nhớt vào nhà; bị chửi bới; đe dọa còn nặng thì bị hành hung đến thương tích.

Sau khi xảy ra vụ việc, nạn nhân luôn báo cho cơ quan chức năng nhưng vụ việc của họ không hề được giải quyết.