CIVICUS: Không gian dân sự Việt Nam thuộc nhóm tệ nhất thế giới.

CIVICUS Monitor điểm danh Việt Nam trong số 20 quốc gia có không gian dân sự tệ nhất thế giới cùng với Bắc Triều Tiên, Lào, Iran và Cuba.

Bản đồ Không gian dân sự thế giới. Ảnh gốc: CIVICUS; Chỉnh sửa: Luật Khoa tạp chí.

Trong báo cáo đầu tiên đưa ra vào ngày 4/4 vừa qua, Mạng lưới nhân quyền quốc tế CIVICUS đã đưa Việt Nam vào nhóm 20 quốc gia có không gian dân sự kém nhất thế giới: “đóng kín”.

Danh sách này gồm 10 quốc gia ở Châu Á như Lào, Triều Tiên, Iran, Syria, Ả rập Saudi, Uzberkistan; Cuba ở châu Mỹ và nhiều quốc gia châu Phi.

CIVICUS nhận xét chung về không gian dân sự của Việt Nam: “Đảng Cộng sản Việt Nam kiểm soát chặt chẽ và hạn chế nghiêm trọng các quyền con người cơ bản. Nhà nước dùng những rào cản pháp lý và quyền lực của mình để cản trở, kiểm soát gắt gao các hội, nhóm độc lập. Việc hội họp liên quan đến các vấn đề nhạy cảm bị cấm, phải xin phép trước hoặc bị sách nhiễu, người tổ chức và người tham gia bị giam giữ”.

CIVICUS là một liên minh thúc đẩy sự tham gia của công dân và xã hội dân sự trên toàn cầu trong hơn 20 năm qua. CIVICUS Mornitor là một nghiên cứu của tổ chức này cùng với các thành viên và đối tác. Nghiên cứu này tạo ra một nền tảng web để liên tục cập nhật và phân tích thông tin về không gian của xã hội dân sự ở các nước.

Báo cáo trên đây dựa trên những dữ liệu được thu thập từ tháng 06/2016 đến 03/2017. Dữ liệu này sẽ được cập nhật và phân tích hàng tuần. Các nhà hoạt động nhân quyền và các cá nhân có thể gửi thông tin qua website.

CIVICUS nhận xét về không gian dân sự Việt Nam

Đánh giá của CIVICUS dựa trên mức độ bảo vệ 3 quyền tự do dân sự cơ bản ở mỗi nước, bao gồm: tự do hiệp hội, tự do hội họp ôn hòa và tự do biểu đạt. Theo đó, từng nước được xếp vào 1 trong 5 nhóm: đóng kín (closed); bị đàn áp (repressed); bị cản trở (obstructed); bị thu hẹp (narrowed); và cởi mở (open).

QUYỀN HIỆP HỘI

Các quyền tự do hiệp hội bị kiểm soát chặt chẽ ở Việt Nam. Các tổ chức không thuộc Mặt trận Tổ quốc đều bị cấm, mặc dù có một số nhóm độc lập vẫn được chấp nhận. Các nhóm xã hội dân sự vấp phải những rào cản về thủ tục đăng ký phức tạp và bị hạn chế nhận tài trợ nước ngoài.

Chính phủ can thiệp quá sâu vào chức năng và hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự. Ví dụ, quyết định 97 của Thủ tướng Chính phủ cấm các tổ chức khoa học và công nghệ có hoạt động liên quan đến chính sách kinh tế, chính sách công, chủ trương đường lối của Đảng và các vấn đề nhạy cảm.

QUYỀN HỘI HỌP

Mặc dù quyền tự do hội họp được Hiến pháp bảo vệ, thực tế các quyền này lại bị giới hạn bởi các quy định pháp luật. Chính quyền luôn từ chối cấp phép hội họp cho những chủ đề nhạy cảm như tôn giáo hay chỉ trích hệ thống chính trị.

Chính quyền theo dõi chặt chẽ các cuộc tụ họp và biểu tình, người tham gia bị quấy nhiễu, hăm dọa và giam giữ. Tháng 5/2016, chính quyền Việt Nam bắt bớ, giam giữ và dùng vũ lực quá mức để trấn áp các cuộc biểu tình cá chết ở miền Trung.

QUYỀN BIỂU ĐẠT

Việt Nam không chấp nhận báo chí tư nhân. Chính phủ và đảng Cộng sản kiểm soát quá mức đối với báo in, phát thanh, truyền hình và Internet. Luật Báo chí năm 1999 quy định tất cả các phương tiện truyền thông là “cơ quan phát ngôn của Đảng”. Chính quyền đưa ra các chỉ thị cấm đưa tin về những người bất đồng chính kiến, nhà hoạt động, các phe phái trong đảng Cộng sản và các vấn đề nhân quyền.

Những người bất đồng chính kiến thường bị giám sát, hạn chế đi lại, bị bắt hoặc giam giữ tùy tiện, thậm chí bị đánh.

Chính quyền sử dụng nhưng điều luật mơ hồ để cầm tù các nhà hoạt động ôn hòa. Nổi bật là các điều luật về “lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân” và “tuyên truyền chống nhà nước” (Bộ luật Hình sự 1999).

Tháng 10/2013, nhà nước đã kiểm duyệt mạng xã hội mà mục tiêu là các blogger. Ít nhất 6 người đã phải ngồi tù năm 2015.

Việt Nam và Lào kém nhất ASEAN

Không gian xã hội dân sự tại các nước ASEAN đều từ mức “bị cản trở” trở xuống. Nhóm quốc gia “bị cản trở” bao gồm: Vương quốc Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines và Singapore.
CIVICUS đánh giá Singapore không cởi mở đối với xã hội dân sự, các hoạt động ở nước này này bị hạn chế và kìm kẹp. Phát triển kinh tế là trên hết. Đảng cầm quyền (đảng Hành động Nhân dân của Lý Hiển Long) gắn bó chặt chẽ với nhà nước. Những người bất đồng chính kiến với chính quyền ít có được kết cục tốt đẹp.

Không gian dân sự bị đàn áp ở Campuchia, Myanmar và Thái Lan.

CIVICUS đưa Myanmar vào nhóm 5 quốc gia bị giám sát (watch list), cùng với Mỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Cameroon, và Macedonia. Do không gian dân sự ở các quốc gia này bị đe dọa và sụt giảm nhanh thời gian gần đây, CIVICUS sẽ quan sát và cập nhật thông tin liên tục ở các quốc gia này.

CIVICUS nói rằng những tháng gần đây quyền tự do ngôn luận ở Myanmar đã suy giảm. Các nhà báo hoạt động trong môi trường khắc nghiệt. Chính quyền đã cấm các nhà báo đi đến bang Rakhine để thu thập bằng chứng phân biệt đối xử đối với với hơn một triệu người Hồi giáo Rohingya và các nhóm thiểu số khác.

Việt Nam và Lào là hai nước đứng cuối khu vực ASEAN.

Tại Lào, hiếm có các cuộc biểu tình. Các nhà hoạt động phải chấp nhận nguy hiểm khi đấu tranh bảo vệ nhân quyền hay chống tham nhũng. Một số nhà hoạt động bị giam giữ, cưỡng bức đến mất tích hơn 10 năm qua. Truyền thông bị kiểm soát nghiêm ngặt, nhà nước đã ra một luật mới để trừng phạt những người đăng thông tin “gây tổn hại đến nhà nước”.

Các tiêu chí xếp loại không gian dân sự của CIVICUS

ĐÓNG KÍN

Không gian dân sự bị đóng kín hoàn toàn trên luật pháp và thực tế. Không khí sợ hãi và bạo lực chiếm ưu thế, những người thực hành các quyền tự do hiệp hội, hội họp ôn hòa và tự do ngôn luận bị giết, bị đánh nặng nề mà không hề được bảo vệ, hay không đòi được công lý. Bất kỳ ai chỉ trích chính quyền nào đều bị trừng phạt và không có tự do báo chí. Internet bị kiểm soát nghiêm ngặt, nhiều trang web bị chặn.

BỊ ĐÀN ÁP

Không gian dân sự bị hạn chế nghiêm trọng. Những ai chỉ trích chính quyền có thể bị theo dõi, quấy rối, đe dọa, bỏ tù, bị đánh, thậm chí bị giết. Mặc dù có tồn tại các tổ chức xã hội dân sự nhưng công việc liên quan đến vận động (advocacy) thường bị hạn chế. Chính quyền từ chối đăng ký hoặc đóng cửa những tổ chức này. Những người tổ chức hoặc tham gia biểu tình ôn hòa có thể bị chính quyền tấn công, bị bắt và giam giữ hàng loạt. Các phương tiện truyền thông chỉ phản ánh ý kiến của nhà nước, bất kỳ tiếng nói độc lập nào cũng bị trừng phạt. Các trang web và mạng xã hội bị chặn, những chiến dịch dân sự trên Internet bị giám sát chặt chẽ.

BỊ CẢN TRỞ

Những nhà lập pháp ở các quốc gia này ban hành những quy định hạn chế về các quyền con người. Chính quyền làm suy yếu các tổ chức xã hội dân sự, bao gồm giám sát bất hợp pháp, quấy rối hành chính và hạ thấp uy tín. Công dân có thể tổ chức và hội họp ôn hòa, đôi khi bị chính quyền sử dụng bạo lực quá mức như đạn cao su, hơi cay. Có không gian cho truyền thông ngoài nhà nước nhưng các nhà báo vẫn có thể bị tấn công và bị cáo buộc tội phỉ báng. Điều này khuyến khích sự kiểm duyệt.

BỊ THU HẸP

Nhà nước ở những quốc gia này cho phép các cá nhân, các tổ chức xã hội dân sự thực hành các quyền tự do hiệp hội, hội họp ôn hòa và tự do biểu đạt, nhưng các quyền này cũng bị vi phạm. Ai cũng có thể thành lập các hội nhóm nhưng lại bị cản trở bằng cách sách nhiễu, bắt giữ hay hành hung bởi những người có quyền lực. Có thể biểu tình một cách ôn hòa, đôi khi chính quyền sẽ từ chối cấp phép do lo ngại về an ninh hoặc sẽ sử dụng vũ lực để chống lại người biểu tình ôn hòa như hơi cay, đạn cao su. Truyền thông được độc lập để phổ biến thông tin, mặc dù nhà nước có thể kiểm soát bằng những quy định nghiêm ngặt hoặc gây áp lực đối với chủ sở hữu.

CỞI MỞ

Nhà nước cho phép và bảo vệ không gian dân sự cho tất cả mọi người. Công dân được tự do thành lập các hội, nhóm; biểu tình ở nơi công cộng; tiếp nhận và truyền đạt thông tin mà không có bất kỳ hạn chế nào trên luật pháp và thực tế. Chính quyền chấp nhận các chỉ trích từ các nhóm xã hội dân sự và xây dựng không gian đối thoại cởi mở với công chúng. Nguyên tắc là cảnh sát sẽ bảo vệ những người biểu tình và bảo vệ các quyền tự do theo chuẩn mực quốc tế. Truyền thông được tự do, không có kiểm duyệt và công dân có thể tiếp cận thông tin từ chính phủ rất dễ dàng.

Nguồn: http://luatkhoa.org/2017/04/civicus-khong-gian-dan-su-viet-nam-thuoc-nhom-te-nhat-the-gioi/

Chiến dịch Tù Nhân Lương Tâm Tôn Giáo

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2017-04-07.
Buổi lễ phát động Chiến dịch Tù Nhân Lương Tâm Tôn Giáo tại Washington, DC hôm 6/4/2017.

Buổi lễ phát động Chiến dịch Tù Nhân Lương Tâm Tôn Giáo tại Washington, DC hôm 6/4/2017.

Chiến dịch Tù Nhân Lương Tâm Tôn Giáo.

Chiến dịch Tù Nhân Lương Tâm Tôn Giáo mà  Ủy Hội Hoa Kỳ Về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế phát động, diễn ra tại trung tâm thăm viếng trong điện  Capitol  hôm thứ Năm dưới hình thức một cuộc họp báo.

Buổi họp này nhằm mục đích nêu bật vấn đề tự do tôn giáo, nêu danh những tù nhân lương tâm trên thế giới.

– Linh mục Thomas ReeseĐây là nỗ lực hay có thể gọi là bước hành động mới của Ủy Hội Hoa Kỳ Về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế, nêu bật những hồ sơ tiêu biểu liên quan đến những cá nhân  đang bị cầm tù ngay trên đất nước của họ vì đã bày tỏ đức tin hoặc  tranh đấu cho quyền tự do tín ngưỡng.

Phúc trình thường niên của Ủy Hội Hoa Kỳ  Về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế  còn giữ vai trò quan trọng trong việc tư vấn cho quốc hội cũng như hành pháp Mỹ  về tình hình tự do tôn giáo tại các nước trên thế giới .

Lên tiếng với đài Á Châu Tự Do trước buổi họp, chủ tịch của USCIRF, linh mục Thomas Reese, cho biết:

Buổi họp này nhằm mục đích nêu bật vấn đề tự do tôn giáo, nêu danh những tù nhân lương tâm trên thế giới. Đây là những người thiệt thòi vì  qui định khắt khe của chính phủ nước họ. Họ bị giam cầm, bị sách nhiễu, bị buộc phải chối bỏ đức tin bởi một nhà nước chủ trương kiểm soát chặt chẽ hoạt động thờ phượng. Nhiệm vụ của Ủy Hội Hoa Kỳ Về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế là nói lên tiếng nói thay cho họ, rằng họ không bị quên lãng, rằng chúng ta hiểu được sự đau khổ họ đang chịu đựng với hy vọng các chính phủ phải xem lại mà trả tự do cho họ.

Hồ sơ về Việt Nam

IMG_8972-400.jpg
Hình mục sư Nguyễn Công Chính và vợ, bà Trần Thị Hồng tại buổi phát động Chiến dịch Tù Nhân Lương Tâm Tôn Giáo. RFA photo

Được biết trong  số 10 hồ sơ tiêu biểu về tù nhân lương tâm các nước có hồ sơ về Việt Nam và trường hợp tù tội của mục sư Nguyễn Công Chính cùng trường hợp bị sách nhiễu đối với vợ mục sư Chính là bà Trần Thị Hồng.

Soạn thảo hồ sơ về mục sư Nguyễn Công Chính đang bị tù tội là ủy viên Jackie Wolcott của Ủy Hội Hoa Kỳ Về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế. Linh mục Thomas Reese là người trình bày về ông Nguyễn Công Chính tại buổi họp báo:

Vị mục sư này đang bị giam giữ trong tù, bị đánh đập và bị sách nhiễu. Chúng tôi nêu ra để mong chính phủ Việt Nam nương tay đối với ông ta đồng thời để yên cho dân chúng của họ được tự do thờ phượng.

Việt Nam là nước được quan tâm theo dõi bao năm qua, được chúng tôi nhắc đi nhắc lại trong mỗi phúc trình hàng năm về tự do tôn giáo. Chúng tôi từng liệt tên Việt Nam vào danh sách CPC những nước cần quan tâm đặc biệt vì  thiếu tự do tôn giáo một cách trầm trọng.

Bản thân tôi từng thăm viếng Việt Nam hai năm trước, từng chứng kiến những tiến bộ đáng kể trong lãnh vực tôn giáo ở đất nước này sau chiến tranh. Thế nhưng điều chúng tôi băn khoăn là vấn đề tù nhân lương tâm mà điển hình là vị mục sư  được nhắc đến hôm  nay.

Chúng tôi từng liệt tên Việt Nam vào danh sách CPC những nước cần quan tâm đặc biệt vì  thiếu tự do tôn giáo một cách trầm trọng.
– Linh mục Thomas Reese

Trong hai năm qua Ủy Hội Hoa Kỳ Về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế vẫn gọi Việt Nam là quốc gia cần quan tâm đặc biệt  vì thiếu tự do tôn giáo. Phúc trình thường niên 2016 sắp hoàn tất và sẽ được công bố cuối tháng này, khi đó quí vị sẽ thấy chúng tôi xếp hạng Việt Nam như thế nào. Nhưng tôi có thể khẳng định đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC vẫn là yêu cầu của Ủy Hội đối với hành pháp Hoa Kỳ. Mọi chi tiết sẽ được thể hiện trong phúc trình thường niên về tự do tôn giáo 2016 tới đây.

Tại buổi họp báo hôm thứ Năm, Ủy Hội Hoa Kỳ Về Tự Do Tôn Giáo  Quốc Tế cũng mời gọi báo giới và các tổ chức NGO góp ý về việc làm sao đẩy mạnh chiến dịch Tù Nhân Lương tâm Tôn Giáo ra toàn thế giới, kêu gọi sự chú ý vận động để những người này được trả tự do và trở lại cuộc sống bình thường.

Dịp này, một mẫu đơn để mọi người điền tên tuổi cũng như trường hợp tù nhân lương tâm đang bị tù đày, bị hành hạ hay bị mất tích mà họ biết , kế đó ký tên xác nhận. Danh sách với chữ ký sẽ được Ủy Hội Hoa Kỳ Về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế dùng làm bằng chứng cho những vận động sắp tới nhằm chấm dứt điều gọi là vì thờ phượng hay sinh hoạt theo đức tin mà bị bắt giữ một cách vô cớ và tùy tiện.

Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/uscirf-n-religiou-prisoner-conscience-project-04072017080910.html

VNTB- LM Phan Văn Lợi: Hoan nghênh ‘danh sách chế tài’ của BPSOS

Hàn Giang
(VNTB) – “Đạo luật Magnitsky không chỉ nhắm đến những thành phần lãnh đạo mà còn nhắm đến những thành phần thừa hành nữa, ví dụ trong việc đàn áp không chỉ có những cá nhân chóp bu chỉ đạo Trung ương mà ngay cả những viên chức cảnh sát, công an ở địa phương cũng tham gia đàn áp thì cũng sẽ bị xử lý”. 
 
   Linh mục Phan Văn Lợi (ảnh: Facebook Phan Van Loi)
 
Theo Thông báo vào ngày 3 tháng 4 năm 2017, của “Ủy ban cứu Người vượt biển” (gọi tắt là BPSOS) do Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng làm Chủ tịch, có trụ sở tại Hoa Kỳ cho biết, để mở đầu cuộc tổng vận động Quốc Hội và Hành Pháp Hoa Kỳ năm 2017, công bố hồ sơ Số 1 trong tổng cộng 6 hồ sơ đã được hoàn tất với danh sách 168 giới chức chính quyền Việt Nam được đề nghị chế tài theo Luật Magnitsky Toàn Cầu của Hoa Kỳ.
   Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng (bên phải) (ảnh: Facebook Huỳnh Thục Vy)
Theo trang Mạch Sống Media thông tin, hồ sơ Số 1 gồm 25 nhân vật liên can đến các hành vi tra tấn đối với Mục Sư Nguyễn Công Chính và vợ là Bà Trần Thị Hồng. Một số nhân vật điển hình gồm:
·  Đại Tá Vũ Văn Lâu, Giám Đốc Sở Công An Tỉnh Gia Lai
·  Đại Tá Nguyễn Văn Long, Giám Đốc Sở Công An Thành Phố Pleiku
·  Đại Tá Nguyễn Văn Trạch, nguyên Phó Giám Đốc Sở Công An Tỉnh Gia Lai
·  Ông Lê Văn Hà, Chánh Án Toà Án Nhân Dân Tỉnh Gia Lai
·  Ông Phạm Bá Sơn, Chánh Án Toà Phúc Thẩm Tỉnh Gia Lai
·  Trung Tá Nguyễn Đình Oánh, Trại Giam T20, Tỉnh Gia Lai
·  Đại Uý Nguyễn Anh Tuấn, Trại Giam T20, Tỉnh Gia Lai
·  Trung Uý Trần Cao Cương, Trại Giam T20, Tỉnh Gia Lai
·  Thiếu Tá Hoàng Đức Giang, Trại Tù An Phước, Tỉnh Bình Dương
·  Đại Uý Đinh Ngọc Quỳnh, Trại Tù An Phước, Tỉnh Bình Dương
·  Ông Huỳnh Văn Trà, Chủ Tịch Uỷ Ban Nhân Dân Phường Hoa Lư, Thành Phố Pleiku, Tỉnh Gia Lai.
Trong khi chờ đợi Quốc Hội và Hành pháp Hoa Kỳ tiến hành thực thi chế tài theo luật Magnitsky đối với những quan chức Việt Nam vi phạm nhân quyền và tham nhũng, theo Linh mục (Lm.) Phan Văn Lợi, việc làm này của riêng cá nhân Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng và BPSOS là rất có ý nghĩa, là niềm hy vọng và có tác động rât lớn đối với phong trào đấu tranh đòi Tự do, Dân chủ và Nhân quyền ở Việt Nam.
PV.VNTB: Thưa Lm Lợi! Có tổng cộng 6 hồ sơ đã được hoàn tất với danh sách 168 quan chức Việt Nam mà BPSOS đề nghị Quốc Hội và Hành Pháp Hoa Kỳ chế tài theo Luật Magnitsky Toàn Cầu của Hoa Kỳ. Một số cá nhân trong hồ sơ 1 được BPSOS công bố là những cá nhân liên can đến các hành vi tra tấn đối với Mục Sư Nguyễn Công Chính và vợ là bà Trần Thị Hồng, theo Linh mục thì việc làm này của BPSOS nó có những ý nghĩa nào?
Lm.Phan Văn Lợi: Cách đây không lâu chúng ta đã biết là Quốc hội Hoa Kỳ và cựu Tổng thống Obama đã đưa ra đạo luật Nhân quyền toàn cầu Magnitsky để truy tầm những cá nhân vi phạm nhân quyền và tham nhũng trên khắp thế giới, không cho họ vào nước Hoa Kỳ, phong tỏa những tài sản của những cá nhân này đã gửi tại Hoa Kỳ. Đây rõ là niềm hy vọng lớn lao cho tất cả những ai quan tâm ở khắp thế giới đặc biệt là ở Việt Nam, bởi vì chúng ta đã thấy những quan chức nằm trong bộ máy cai trị của Việt Nam vừa tham nhũng, bóc lọt không những của công mà còn của của tư, đồng thời đàn áp người dân. Vì vậy, đạo luật Magnitsky như là một lời cảnh báo cũng như một sự chặn cửa cho những tay tội phạm đó, tội phạm đối với toàn quốc đó là điều làm chúng ta vui mừng. Hơn nữa, chúng ta phải thấy được một điều thế này, những cá nhân lãnh đạo cao cấp ở Việt Nam đang tìm cách vơ vét, giành giật của nhau và của dân để đi ra nước ngoài. Cho nên những việc làm của Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng và BPSOS là một việc làm rất có ý nghĩa, là lời cảnh báo cho cá nhân lãnh đạo ở Việt Nam đừng có mơ rằng sẽ chạy ra khỏi nước và ung dung hưởng những tài sản đã cướp bóc của người dân. Chúng tôi hoan nghênh những việc làm của Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, những việc làm của BPSOS, là một việc đấu tranh trên phương diện pháp lý và cần phải như vậy.
PV.VNTB: Theo Linh mục thì Linh mục có đặt niềm tin là Quốc Hội và Hành Pháp Hoa Kỳ lần này sẽ thực hiện chế tài Magnitsky đối với những cá nhân quan chức Việt Nam theo như danh sách BPSOS đưa ra hay không?
 
Lm.Phan Văn Lợi: Thứ nhất, điều này còn tùy vào ở phía trong nước chúng ta, cụ thể là những cá nhân, tổ chức đấu tranh đưa ra những hồ sơ cho đầy đủ với những bằng cớ cho rõ ràng. Thứ hai, những đồng bào ở Hải ngoại đặc biệt là ở Hoa Kỳ phải cố gắng vận động chính giới, báo giới ở đó quan tâm đến những trường hợp, nhất là nêu bật những trường hợp mà chính quyền Việt Nam vừa đàn áp người dân, vừa đàn áp những nhân vật đấu tranh. Thành công hay không? Quốc hội, Hành Pháp và Tổng thống Hoa Kỳ có quan tâm hay không còn phụ thuộc rất nhiều sự nổ lực ở phía chúng ta, của đồng bào ở Hải ngoại. Ở đây tôi muốn nhấn mạnh một lời, xin đồng bào ở tất cả các nơi như ở Châu Âu, Châu Úc, Châu Á phải có những hình thức vận động để có những đạo luật như đạo luật Magnitsky xuất hiện tại các nước dân chủ, để chúng ta chặn tất cả mọi ngã đường đẩy tài sản và tẩu thoát ra nước ngoài của những cá nhân quan chức Việt Nam vi phạm.
PV.VNTB: Đặt trường hợp Quốc Hội và Hành Pháp Hoa Kỳ chấp nhận danh sách mà phía BPSOS đưa ra và tiến hành thực hiện chế tài theo đạo luật Magnitsky, điều này theo Linh mục có khiến những cá quan chức không nằm trong danh sách có run sợ, không dám vi phạm Nhân quyền hay không?
Lm.Phan Văn Lợi: Đạo luật Magnitsky không chỉ nhắm đến những thành phần lãnh đạo mà còn nhắm đến những thành phần thừa hành nữa, ví dụ trong việc đàn áp không chỉ có những cá nhân chóp bu chỉ đạo Trung ương mà ngay cả những viên chức cảnh sát, công an ở địa phương cũng tham gia đàn áp thì cũng sẽ bị xử lý. Cũng như trong việc tham nhũng cũng vậy, từ người đứng đầu cho đến những kẻ góp sức cho việc tham nhũng đó cũng phải chịu xử lý, chịu chế tài của đạo luật Magnitsky. Cho nên chúng ta hy vọng Quốc hội, Hành Pháp và Tổng thống Hoa Kỳ thông qua danh sách 168 người đó thì cũng là một lời nhắc nhở cho những quan chức khác phải ý thức rằng, họ cũng đang bị nhắm đến, để mà họ có thể chùn tay lại.
PV.VNTB: Một câu hỏi cuối là liệu những việc làm của Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, của BPSOS có tác động như thế nào đến phong trào đấu tranh tự do, dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam?
 
Lm.Phan Văn Lợi: Đây là một sự tiếp sức rất lớn bởi vì khi đaọ luật Magnitsky vừa mới được ban hành, trước khi Tổng thống Obama ra đi thì các cá nhân, tổ chức dân sự đã có bản lên tiếng ủng hộ và cám ơn rồi. Bây giờ chúng tôi chỉ mong rằng đạo luật này phát huy tác dụng như thế nào đối với phía Việt Nam bởi vì Việt Nam như mọi người đã biết là một trong những quốc gia được quốc tế đánh giá đàn áp và tham nhũng hàng đầu thế giới
VNTB cám ơn những chia sẻ của Linh mục Phan Văn Lợi!
 
Theo trang Mạch Sống Media thông tin, BPSOS chọn 6 hồ sơ cho cuộc vận động năm 2017 dựa trên các tiêu chuẩn sau:
(1) Sự đàn áp nghiêm trọng vì xảy ra hành vi tra tấn hay đánh chết người.
(2) Nạn nhân là những người tranh đấu cho nhân quyền.
(3) Hồ sơ khả tín vì đã được quốc tế, nhất là chính quyền Hoa Kỳ, công nhận.
(4) Vấn đề trách nhiệm có thể truy cứu đến những giới chức chính quyền.
Cả 6 hồ sơ đã được nộp cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và Uỷ Hội Hoa Kỳ về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế ngày 17 tháng 3, 2017. Uỷ Hội Hoa Kỳ về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế chính thức chọn hồ sơ Số 1, tức hồ sơ về Mục Sư Nguyễn Công Chính và Bà Trần Thị Hồng, cho Đề Án Tù Nhân Lương Tâm Tôn Giáo. Đề án này là nỗ lực của Uỷ Hội để cung cấp dữ kiện cho Hành Pháp Hoa Kỳ trong việc đưa một số quốc gia, trong đó có Việt Nam, vào danh sách Quốc Gia Phải Quan Tâm Đặc Biệt (CPC).
Ngày 31 tháng 3 vừa qua, Ts. Nguyễn Đình Thắng và cựu Đại Sứ Grover Joseph Rees cùng đại diện cho BPSOS đến họp với Uỷ Hội Hoa Kỳ về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế về kế hoạch phối hợp hành động.

Nếu như Quốc Hội và Hành Pháp Hoa Kỳ thông qua danh sách 168 quan chức Việt Nam vi phạm nhân quyền mà BPSOS đưa lên thì không chỉ bản thân mà người thân của 168 quan chức này cũng sẽ bị chế tài của đạo luật Magnitsky Hoa Kỳ.

Nguồn: http://www.ijavn.org/2017/04/vntb-lm-phan-van-loi-hoan-nghenh-danh.html

Phân biệt Nhân quyền và Dân quyền

Mỗi cá nhân đều được hưởng các quyền cơ bản nhất định, được hình thành một cách tự nhiên hoặc được hiến pháp công nhận. Nhân quyền và Dân quyền là hai loại quyền căn bản thường gặp và hay được đem ra tranh luận. Tuy có nhiều điểm giao thoa, song mỗi loại quyền này đều có những tính chất và đặc điểm riêng của mình.

  • Dạ Lãm, tổng hợp

1. Nhân quyền là gì?

Nhân quyền (human rights), hay quyền con người là các quyền cơ bản nhất, tự nhiên nhất của con người. Chúng là những quyền mà con người sinh ra đã có, đã được công nhận, không (và không nên) được trao cho hay ban tặng bởi bất kỳ lý tưởng chính trị, tôn giáo hay thể chế nhà nước nào; và cũng không thể bị tước đi bởi chúng.

Nhân quyền bao gồm: quyền sống, quyền được giáo dục, quyền được bảo vệ khỏi các hình thức tra tấn, quyền tự do biểu đạt, quyền được xét xử công bằng, v.v. Nhiều quyền trong số đó có bản chất dân quyền (civil rights), song được xem là cần thiết cho sự tồn tại của con người.

Trẻ em Do Thái tại một trại tập trung của Đức Quốc Xã. Holocaust được xem là một trong những vi phạm nhân quyền kinh khủng nhất trong lịch sử thế giới hiện đại. Ảnh: BORGEN Magazine

Khái niệm nhân quyền trong môi trường pháp lý chính quy được hình thành sau Thế chiến II, liên quan đặc biệt tới những tội ác mà Đức Quốc xã thực hiện với người Do Thái và các nhóm dân tộc khác. Vào năm 1948, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, củng cố nền tảng nhân quyền trong luật pháp và chính sách quốc tế.

2. Dân quyền là gì?

Dân quyền, hay còn gọi là quyền công dân là những quyền mà một người được hưởng trên cơ sở là công dân của một quốc gia nhất định.

Dân quyền bảo vệ công dân khỏi sự phân biệt, đàn áp và trao cho họ một số quyền tự do nhất định, như tự do ngôn luận, quyền tham gia tố tụng đúng luật (due process), quyền được xét xử công bằng (fair trials), quyền không tự buộc tội (the right against self-incrimination),.v.v.. Hay rõ ràng có thể nghĩ đến quyền công dân được nhà nước mình bảo hộ.

Dân quyền có thể được xem là kết quả của sự thỏa thuận giữa nhà nước và cá nhân, trong mối quan hệ giữa nhà nước và công dân đó.

3. Cơ sở phát sinh quyền

Nhân quyền phát sinh tự nhiên, trên cơ sở “sự tồn tại con người”. Tức là đã sinh ra làm người thì ắt sẽ có nhân quyền. Mọi cá nhân bất kể màu da, giới tính, chủng tộc, tôn giáo, có quốc tịch hay không quốc tịch, đều có quyền con người. Nhân quyền có tính phổ quát, không có sự phân biệt “nhân quyền Việt Nam” hay “nhân quyền Mỹ”, đó là các quyền mà con người dù ở đâu cũng có như nhau.

Phong trào dân quyền tại Hoa Kỳ những năm 50 – 60 mang bản chất đấu tranh cho cả dân quyền và nhân quyền. Ảnh: Wikipedia

Phong trào dân quyền tại Hoa Kỳ những năm 50 – 60 mang bản chất đấu tranh cho cả dân quyền và nhân quyền. Ảnh: Wikipedia

Dân quyền phức tạp hơn, chỉ phát sinh khi các quyền đó được pháp luật công nhận. Mà cụ thể là các quyền này sẽ được quy định trong hiến pháp hoặc luật quốc gia. Dân quyền ở mỗi quốc gia có sự khác nhau nhất định. Không quốc gia nào có thể tước đi quyền con người của một cá nhân, song mỗi quốc gia khác nhau có thể công nhận hoặc từ chối những quyền dân sự và tự do khác nhau. Ví dụ: người dân nước X có thể có ít dân quyền hơn người dân nước Y, dân quyền nước Y có nội dung khác dân quyền nước X.

Vì các quan điểm chính trị cũng như pháp lý khác biệt, không dễ để phân biệt đâu là nhân quyền và đâu là dân quyền.

Ở Việt Nam, trong Hiến Pháp 2013, có thể phần nào xác định quyền tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình (điều 25) là những loại hình dân quyền (Vì không phải bất kỳ thể nhân nước ngoài nào cũng được trao những quyền tương tự). Nhưng những quyền như quyền được sống, quyền tự do ngôn luận (Điều 25), Quyền bình đẳng giới (điều 26), v.v. phần nào đó lại mang bản chất nhân quyền.

4. Đối tượng hưởng quyền

Nhân quyền: mọi con người, bất kể giới tính, độ tuổi, chủng tộc, tôn giáo, quốc gia đều có Nhân quyền.

Dân quyền: chỉ khi là công dân của một quốc gia nhất định thì mới có các quyền dân sự được công nhận và bảo hộ ở quốc gia đó.

Như vậy, mọi cá nhân đều có các quyền con người như nhau, song mỗi người sẽ có các quyền dân sự khác nhau tùy thuộc vào quốc gia mà họ là công dân.

5. Phạm vi áp dụng

Do Nhân quyền có tính phổ quát, nên ở đâu có con người, ở đó có Nhân quyền. Và Nhân quyền ở các quốc gia khác nhau là như nhau (hoặc nên là như vậy).

Dân quyền ở mỗi quốc gia khác nhau sẽ có những sự khác nhau nhất định, tùy vào quy định của hiến pháp và pháp luật quốc gia đó. Công dân một nước nhất định chỉ được hưởng các quyền dân sự nhất định mà pháp luật của nước họ đã công nhận.

Nhân quyền được và cần được chấp nhận rộng rãi bất kể quốc tịch, tôn giáo và dân tộc. Trong khi Dân quyền bị hạn chế bởi pháp luật quốc gia và những quy chuẩn xã hội, văn hóa, truyền thống, cũng như các khía cạnh khác của quốc gia đó.

Trong bối cảnh quốc tế, dân quyền xuất phát từ hiến pháp hay luật pháp của mỗi quốc gia, trong khi nhân quyền được xem là phổ quát cho mọi người. Do đó, cộng đồng quốc tế ít có khả năng phản ứng với các quốc gia khi có sự vi phạm dân quyền trong quốc gia đó, mà thường hành động khi có những vi phạm về nhân quyền.

6. Văn bản pháp lý quốc tế

Về nhân quyền:

Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 tại Palais de Chaillot ở Paris, Pháp. Đây là tuyên ngôn về các quyền cơ bản của con người, liệt kê các quyền cơ bản mà mọi cá nhân được hưởng. Bản tuyên ngôn gồm 30 điều đã được xây dựng trong các Thỏa ước quốc tế, thỏa ước nhân quyền khu vực, hiến pháp và luật pháp quốc gia.

Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền là một phần của Bộ Luật Nhân quyền Quốc tế bao gồm Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa, và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị; cùng hai Nghị định thư không bắt buộc I và II.

Về Dân quyền:

Là một phần của Bộ luật Nhân quyền Quốc tế, Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc và các quốc gia thành viên thông qua ngày 16 háng 12 năm 1966 và có hiệu lực từ ngày 23 tháng 03 năm 1976. Công ước nêu tổng quan các quyền dân sự và chính trị cơ bản của con người.

Điểm đáng lưu ý là ngay cả hai công ước cơ bản về Dân quyền và Nhân quyền nói trên cũng không xác định rõ được lằn ranh giữa hai loại quyền. Đây nên được xem là một thiếu sót lớn trong hệ thống pháp luật quốc tế trong tương lai.

Tài liệu tham khảo

Nhân quyền, Wikipedia

Civil Rights and Human Rights, Garry Crystal, 6/5/2016

What is the Difference Between a Human Right and a Civil Right?, HG.org

Difference Between Human and Civil Rights, differencebetween.net

 

Hội Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam tham gia hội thảo về XHDS

LTS – Một đất nước muốn có được một nền dân chủ bền vững, thì đất nước đó phải có nhiều tổ chức xã hội dân sự vững mạnh. Trên khía cạnh này, các chị em phụ nữ Việt Nam đã đóng một vai trò tiên phong rất ngoạn mục. Bị đàn áp, họ kiếm đến nhau để thành lập Hội Phữ Nữ Nhân Quyền Việt Nam nhằm bảo vệ quyền lợi cho các chị em phụ nữ. Bị cấm đoán, họ vẫn khéo léo tìm cách vô hiệu hóa vòng kềm tỏa của nhà nước để hoạt động rộng lớn hơn và hữu hiệu hơn. Trong một cuộc hội thảo với chủ đề “Thử thách và cơ hội trong việc phát triển xã hội dân sự Việt Nam”, tại trụ sở Hạ Viện Hoa Kỳ ngày 1 tháng 2 năm 2017, một người đại diện cho hội PNNQVN đã chia sẻ kinh nghiệm và tâm tình qua bài viết sau đây.

Kính thưa quý vị quan khách, trong khuôn viên của Quốc Hội Hoa Kỳ ngày hôm nay.

Thật là niềm vinh dự cho tôi có cơ hội trình chịy với quý vị quan tâm về tình hình của hội Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam (PNNQVN) mà tôi là một thành viên trong khuôn viên của Quốc Hội Hoa Kỳ ngày hôm nay.

Vào tháng 11 năm 2013, một nhóm phụ nữ tranh đấu cho nhân quyền đã tập họp lại và quyết định thành lập một tổ chức Xã Hội Dân Sự (XHDS) độc lập lấy tên là Hội PNNQVN, nhằm mục đích bảo vệ nhân quyền, đặc biệt là quyền phụ nữ tại Việt Nam. Nhiều thành viên của chúng tôi vốn là tù nhân lương tâm, dân oan và các nạn nhân bị tra tấn và bạo hành bởi nhân viên công lực. Nhà cầm quyền Việt Nam không công nhận tổ chức của chúng tôi, chính vì thế Hội PNNQVN nằm ngoài vòng pháp luật của họ. Những thành viên cốt lõi của hội có khả năng về Anh ngữ được chú ý đặc biệt và liệt vào danh sách cấm xuất cảnh.

Để giúp các hội viên tại Việt Nam, chúng tôi thành lập nhóm kết nghĩa tại hải ngoại vào năm 2015. Hội cũng có thành viên đại diện tại Hoa Kỳ, Gia Nã Đại và Thái Lan để giúp cho các thành viên tại Việt Nam tiếp cận với các cộng đồng quốc tế, và đặc biệt là có thể thay mặt các thành viên tại quốc nội tham gia các cuộc hội thảo và diễn đàn Người Dân trong vùng Đông Nam Á và quốc tế khi các chị em trong nước bị nhà cầm quyền Việt Nam cấm cản xuất cảnh.

Hội chúng tôi là tổ chức XHDS Việt Nam duy nhất và đầu tiên được kết nạp làm thành viên của FORUM-ASIA và Mạng Lưới Dân Chủ Á Châu vào tháng 1 năm 2016.

Nhờ vào sự nối kết này chúng tôi đã giúp thành viên của hội tiếp cận và tham dự các diễn dàn khu vực và quốc tế. Trong khi thành viên của hội bị cấm xuất cảnh, những thành viên đại diện tại hải ngoại đã tham dự vào các diễn đàn này để lên tiếng trình chịy về những vi phạm nhân quyền, đăc biệt là những vi phạm đối với chị em phụ nữ tại Việt Nam tại tại hội nghị được tổ chức tại Đông Timor, Thái Lan, Sri Lanka, Phi Luật Tân trong năm 2016.

Một trường hợp đặc biệt của một thành viên của hội đó là chị Trần Thị Hồng, vợ của Mục Sư Nguyễn Công Chính. Mục Sư Nguyễn Công Chính, thuộc Hội Thánh Tin Lành Lutheran Việt Nam, đã bị cầm tù kể từ năm 2012. Mục Sư Chính đã nhiều lần bị đánh đập và ngược đãi trong trại giam và bị hạn chế trong việc được thăm nuôi. Nhưng tệ hại hơn nữa là vợ và con của Mục Sư Chính luôn thường xuyên bị hành hung và đe dọa. Điển hình là sau khi gặp gỡ ông David Saperstein, Đại Sứ lưu động về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế vào tháng 3 năm 2016, chị Hồng, vợ Mục Sư Chính đã bị câu lưu và đánh đập bởi công an địa phương. Một ngày vào tháng 5 năm 2016, tôi gửi tin nhắn qua Facebook cho chị Hồng để hỏi thăm – “Chị khỏe không?”. Tôi thật bất ngờ nhận được tin nhắn trả lời từ con của chị Hồng: “Thưa cô, công an đã đến nhà và bắt mẹ con đi rồi.” Lúc đó, tôi thực sự cảm nghẹn ngào và bất lực. Tôi không thể làm gì bất cứ điều gì ngay thời điểm đó để giúp chị Hồng khi tôi biết chắc rằng lúc đó ấy chị đang phải chịu sự hành hạ và tra tấn từ công an. Cảm giác đó đau đớn đến nỗi tôi chỉ biết ngồi đó và khóc. Họ đã đánh đập và tra tấn chị Hồng rất tàn nhẫn và dã man. Sau đó họ chở chị ấy về và quẳng chị xuống lề đường trước của nhà của chị. Chị Hồng không còn sức để bước vào nhà. Các người hàng xóm đã đến giúp khiêng chị vào nhà.

Những ngày liên tiếp sau đó, chúng tôi đã làm việc ngay với nhau để viết bản báo cáo vi phạm đến các văn phòng Liên Hiệp Quốc (LHQ). Chúng tôi viết báo cáo bằng tiếng Việt và sau đó nhờ thiện nguyện viên dịch sang ngay tiếng Anh. Chúng tôi có rất nhiều việc cần làm để giúp người dân tại Việt Nam. Đặc biệt là các chị em phụ nữ. Chúng tôi không những giúp các thành viên của hội, mà chúng tôi muốn giúp tất cả mọi chị em phụ nữ tại Việt Nam.

Hội PNNQVN làm việc sát cánh với các tổ chức khác trong mạng lưới các tổ chức XHDS độc lập tại Việt Nam như Liên Minh Chống Tra Tấn – Việt Nam, Chiến Dịch Cứu Giáo Xứ Đông Yên để cùng nhau hoàn thiện những bản báo cáo vi phạm nhân quyền và gửi đến các văn phòng LHQ và bộ ngoại giao Hoa Kỳ và Liên Hiệp Âu Châu.

Chúng tôi kêu gọi và mong đợi sự tiếp tay và yểm trợ về tài chánh cũng như nhân lực của đồng bào Việt Nam tại hải ngoại để giúp hội PNNQVN nói riêng và các tổ chức XHDS độc lập tại Việt Nam nói chung bằng cách tham gia vào các nhóm kết nghĩa tại hải ngoại.

Chúng tôi mời gọi sự hợp tác của các tổ chức XHDS độc lập tại Viêt Nam và các tổ chức nhân quyền quốc tế với hội PNNQVN, ngỏ hầu quyền Phụ Nữ và Nhân Quyền tại Việt Nam được tôn trọng và thực thi theo đúng như lời cam kết của nhà cầm quyền Việt Nam trước LHQ và quốc tế.

Xin trân trọng cảm tạ sự quan tâm của quý vi.

Đinh Thị Ngọc Tuyết

Thành viên và đại diện hội PNNQVN tại Hoa Kỳ

Xin xem video lời phát biểu tiếng Anh tại đây:

Bản Tin Số 1

1: Giới thiệu về Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam.
2: Thông tin về Mục sư Nguyễn Công Chính từ vợ là chị Trần Thị Hồng.
3: Tù Nhân Lương Tâm Lương Văn Bảy: Kinh nghiệm của tù nhân trước và sau khi ở tù.
4: Phụ Nữ Dân Oan qua lời tự sự của cô Hồ Thị Bích Khương.

 

Bộ Ngoại giao Mỹ: VN tiếp tục đàn áp nhân quyền trong năm 2016

VOA

6-3-2017

Logo của Bộ Ngoại giao Mỹ

Bản phúc trình nhân quyền năm 2016 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tiếp tục ghi nhận Việt Nam là một nhà nước “độc tài cai trị bởi một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam” và “tiếp tục đàn áp nhân quyền” dưới nhiều hình thức.

Phần viết về nhân quyền Việt Nam trong phúc trình năm 2016 dài 33, so với năm 2015 dài 57 trang, cho rằng: “chính quyền giới hạn nghiệm trọng quyền tự do chính trị của người dân, đặc biệt quyền thay đổi chính quyền bằng các cuộc bầu cử tự do và công bằng.”

Bản phúc trình ngày 3/3 nói thêm rằng: “chính quyền giới hạn về tự do dân sự của công dân, trong đó có tự do hội họp, lập hội và bày tỏ; và không bảo vệ đầy đủ các quyền lợi trong xét xử của công dân, không bảo vệ người dân khỏi việc giam giữ tùy tiện.”

Báo cáo cho biết “công an cấp tỉnh và địa phương thường xuyên duy trì quyền hành đáng kể trong hoạt động của mình… Trong số 19 thành viên của Bộ Chính trị hiện tại có 4 thành viên đang hoặc từng làm việc ở Bộ Công an, so với con số 3 trong số 16 thành viên Bộ Chính trị là quan chức công an trong nhiệm kỳ trước.”

Báo cáo cho biết thêm chính phủ Việt Nam bổ nhiệm các quan chức đương nhiệm hoặc cựu quan chức của Bộ Công an vào một loạt các vị trí cấp cao, trong đó có Chủ tịch nước Trần Đại Quang, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình, Chủ nhiệm Văn phòng Trung ương Đảng Nguyễn Văn Nên, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Hòa Bình, quyền Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ Bùi Thanh Hà. Các cựu quan chức an ninh của bộ Công An cũng giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt trong chính quyền cấp tỉnh, thành trong đó có Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung và Bí thư tỉnh ủy Thái Nguyên Trần Quốc Tỏ.

Báo cáo có nhắc đến việc chính quyền ngăn chặn các nhà hoạt động không cho gặp gỡ với một vị nguyên thủ quốc gia nước ngoài đến Việt Nam vào 25/5/2016: “Nhân viên cảnh sát và an ninh thường phục giam cầm hay quản thúc tại gia rất nhiều nhà hoạt động trong những ngày trước chuyến thăm của một nhà lãnh đạo nước ngoài đến Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.”

Báo cáo viết: “Vào ngày 24/5 an ninh thường phục của Bộ Công an và cán bộ công an của Hà Nội ngăn cản và câu lưu người ủng hộ nhân quyền Nguyễn Quang A gặp gỡ với một nhà lãnh đạo nước ngoài… Tương tự, các quan chức an ninh bắt giữ blogger và là nhà hoạt động Phạm Đoan Trang ở tỉnh Ninh Bình trong khi cô đang trên đường đến gặp nhà lãnh đạo nước ngoài này. Vào ngày 25/5, cơ quan chức năng ở Thành phố Hồ Chí Minh bắt giữ Trần Hoàng Phúc và câu lưu tại đồn công an đến 8 giờ nhằm ngăn chặn anh tham gia vào một sự kiện thanh niên với một nhà lãnh đạo nước ngoài. Cảnh sát được cho là đã lục soát túi xách của anh Phúc và tịch thu điện thoại di động cùng tài liệu cá nhân của anh.”

Bộ Ngoại giao Việt Nam chưa lên tiếng về bản phúc trình nhân quyền 2016 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.

Năm ngoái, Bộ Ngoại giao Việt Nam cho rằng báo cáo nhân quyền của Mỹ năm 2015 “dựa trên thông tin không chính xác, không phản ánh đúng thực tế thực thi quyền con người ở Việt Nam.”

Khi đó người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình cho biết: “Việt Nam luôn sẵn sàng trao đổi thẳng thắn và cởi mở với các nước, trong đó có Mỹ, về những vấn đề còn có sự khác biệt, qua đó thu hẹp bất đồng, tăng cường hiểu biết và góp phần thúc đẩy quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước.”

Báo cáo nhân quyền hàng năm do Quốc hội Mỹ chỉ đạo thực hiện, ghi nhận tình hình nhân quyền ở gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ và do các nhân viên của Đại sứ quán Mỹ soạn thảo. Báo cáo năm nay phần lớn được hoàn thành trong nhiệm kỳ của Tổng thống Barack Obama.

Bộ Ngoại giao Mỹ hôm thứ Sáu, 3/3, đã công bố báo cáo hàng năm về tình hình nhân quyền toàn thế giới nhưng việc công bố đã bị lu mờ bởi những chỉ trích nói rằng Ngoại trưởng Rex Tillerson đã không dành nhiều sự chú ý và không tổ chức rầm rộ như truyền thống.

The Economist: Việt Nam và Lào kém dân chủ nhất Đông Nam Á

Đánh giá chỉ số dân chủ năm 2016, tạp chí kinh tế The Economist chấm Việt Nam được 3.21/10 điểm, xếp thứ 131/167 quốc gia và được liệt vào nhóm các quốc gia chuyên chế, độc tài (authoritarian regime) cùng với Triều Tiên, Trung Quốc, Lào và Afghanistan.

Bản đồ chỉ số dân chủ năm 2016. Ảnh: chụp màn hình.

Nhóm nghiên cứu Economist Intelligence Unit (EIU) thuộc tạp chí kinh tế The Economist vừa công bố báo cáo nghiên cứu về chỉ số dân chủ 2016 tại 167 quốc gia trên thế giới.

EIU đã gọi năm 2016 là năm của suy thoái dân chủ trên toàn cầu.

Báo cáo này đánh giá 5 yếu tố theo thang điểm 10, bao gồm: quy trình bầu cử và đa nguyên; các quyền tự do của công dân; hoạt động của nhà nước; sự tham gia chính trị; và văn hóa chính trị. Điểm trung bình của 5 yếu tố này là chỉ số dân chủ của quốc gia đó.

Theo đó, EIU xếp mỗi quốc gia vào một trong 4 nhóm: dân chủ hoàn chỉnh (full democracy); dân chủ chưa hoàn chỉnh (flawed democracy); chế độ lai tạp, đang chuyển đổi dân chủ (hybrid regime) và chế độ chuyên chế, độc tài (authorian regime).

Chỉ số dân chủ Việt Nam kém một cách “ổn định”

So với năm 2015, Việt Nam đã lên được ba bậc và xếp thứ 131 trên 167 quốc gia. Tuy nhiên, điều này không đủ đưa Việt Nam ra khỏi nhóm các quốc gia chuyên chế, độc tài cùng với Trung Quốc, Triều Tiên, Lào và Afghanistan tại châu Á.

Việt Nam xếp thứ 131 với 3.38 điểm. Nguồn: The Ecomonist.

Bênh cạnh đó, Việt Nam có cùng điểm chung với Trung Quốc và Triều Tiên khi nhiều năm liền bị đánh giá 0/10 điểm về quy trình bầu cử và đa nguyên chính trị.

Chỉ số này đánh giá quyền lập các đảng phái, tổ chức dân sự; bầu cử được tổ chức tự do và công bằng, ở đó công dân có sự cạnh tranh giữa các đảng phái, cử tri được quyền phổ thông đầu phiếu, tự do lựa chọn ứng cử viên mà không bị đe dọa, cũng như chuyển giao chính quyền ôn hòa sau bầu cử.

Chỉ số dân chủ Việt Nam dậm chân tại chỗ quanh mức 3/10 điểm trong 10 năm, kể từ khi EIU lần đầu tiên công bố chỉ số này năm 2006.

Chỉ số về hoạt động của nhà nước Việt Nam suy giảm từ năm 2011 xuống còn 3.93 điểm, duy trì đến năm 2015, nhưng đến năm 2016 giảm xuống còn 3.21/10 điểm. Trong một báo cáo khác của Chương trình phát triển Liên hiệp quốc tại Việt Nam (PAPI 2015) cũng cho thấy hiệu quả quản trị và hành chính công ở Việt Nam đang có xu hướng giảm đáng kể.

Trong khi đó, yếu tố văn hóa chính trị của Việt Nam lại có điểm tương đối cao, tăng mạnh qua nhiều năm (6.88/10), nhất là trong thời kỳ 2008 – 2012. Chỉ số này của Việt Nam cao nhất trong khu vực ASEAN và ngang với Myanmar.

EIU cho rằng văn hóa chính trị đóng vai trò quan trọng cho sự chính danh của nhà nước, thực thi chức năng nhà nước hiệu quả và bảo đảm nền dân chủ đứng vững. Dân chủ sẽ không phù hợp với đất nước có văn hóa chính trị thụ động, thờ ơ và ngoan ngoãn. Một đất nước có nền văn hóa chính trị dân chủ là nơi phe thua cuộc chấp nhận kết quả và đồng ý chuyển giao quyền lực cho phe thắng.

Chỉ số về các quyền tự do dân sự và tham gia chính trị có mức tăng nhẹ trong 10 năm. Đặc biệt, các quyền tham gia chính trị bị sụt hẳn gần 1 điểm trong năm 2008, cũng là năm nổ ra biểu tình chống Trung Quốc tại Việt Nam. Đối với hai chỉ số này, Việt Nam có điểm thấp nhất trong các quốc gia ASEAN chỉ đứng trên Lào.

Chỉ số dân chủ tại ASEAN và Châu Á

Indonesia và Philippines có chỉ số dân chủ tưởng đối cao, lần lượt đứng thứ 50 và 48 trên 167 quốc gia. Hai nước này cùng với Malaysia và Singapore được EIU xếp vào nhóm nước dân chủ chưa hoàn chỉnh (flawed democracy).

Myanmar tiến xa hơn Việt Nam sau khi quân đội chuyển giao chính phủ cho đảng đối lập do Aung San Suu Kyi lãnh đạo, trở thành quốc gia có thể chế lai tạp và trên đường chuyển đổi dân chủ (hybrid regime) cùng với Thái Lan và Campuchia. Các chỉ số của Myanmar đều cao hơn Việt Nam, chỉ có hai chỉ số còn lại về văn hóa chính trị và các quyền tự do của công dân là tương đương.

Chỉ số dân chủ của Thái Lan đang có xu hướng suy giảm. Năm 2008, Thái Lan được xếp vào quốc gia có nền dân chủ chưa hoàn chỉnh, đứng đầu ASEAN và xếp hạng 54 thế giới. Sau đó, quốc gia sùng đạo Phật này đã bị tụt gần 50 bậc và trở thành chế độ lai tạp, đang cố gắng khôi phục lại nền dân chủ.

Điều ngạc nhiên khác là Đông Timor, ứng cử viên khao khát gia nhập ASEAN, lại có chỉ số dân chủ cao hơn tất cả các nước ASEAN, ở mức 7,24/10 điểm, hạng 43/167 thế giới, chỉ đứng sau Đài Loan, Ấn Độ.

Trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, nền dân chủ của New Zealand và Australia dẫn đầu và vượt trội so với các quốc gia theo sau, lần lượt là Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và Đài Loan.

Phân loại EIU về 4 loại thế chế

Dân chủ hoàn chỉnh (full democracy): Những quốc gia được gọi là dân chủ không chỉ đảm bảo về các quyền tự do chính trị và dân sự, ví dụ như các quyền tự do hiệp hội, tự do ngôn luận sở hữu mà còn có xu hướng củng cố văn hóa chính trị để giữ cho nền dân chủ đứng vững trước những biến đổi khó lường. Người dân hài lòng về hiệu quả hoạt động của nhà nước. Truyền thông và báo chí độc lập và đa dạng. Có sự phân chia quyền lực trong hệ thống nhà nước với các biện pháp kiểm soát và đối trọng quyền lực (checks and balances). Cơ quan tư pháp độc lập và quyết định tư pháp được thực thi.

Dân chủ chưa hoàn chỉnh (flawed democracy): Những quốc gia này có tiến trình bầu cử tự do và công bằng. Các quyền tự do cơ bản của công dân được tôn trọng. Tuy nhiên, các nước này vẫn còn tồn tại những hạn chế chưa thể giải quyết để đảm bảo nền dân chủ như các vấn đề trong quản trị nhà nước, văn hóa chính trị kém phát triển và mức độ tham gia chính trị thấp.

Thể chế lai tạp, đang trên đường dân chủ hóa (hybrid regime): Các quốc gia này không đảm bảo bầu cử được diễn ra tự do và công bằng. Tồn tại sự cạnh tranh giữa các đảng đối lập và các ứng cử viên đủ khả năng tranh cử. Những điểm yếu nghiêm trọng ở các quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi này là văn hóa chính trị yếu, nhà nước hoạt động thiếu hiệu quả, mức độ tham gia chính trị thấp. Tham nhũng có xu hướng lan rộng và nền pháp quyền yếu kém. Xã hội dân sự kém phát triển. Nhà báo thường bị sách nhiễu và các cơ quan tư pháp không độc lập.

Những người ủng hộ đảng đối lập của Aung San Suu Kyi vui mừng sau khi giành được chiến thắng trong kỳ bầu cử 2015. Ảnh: Reuters.

Thể chế chuyên chế, độc tài (authorian regime): Sự đa nguyên trong chính trị (ví dụ như đảng phái, các tổ chức dân sự) dường như không có hoặc bị hạn chế nghiêm trọng, nhiều quốc gia trong nhóm này hoàn toàn độc tài. Một vài cơ chế của nền dân chủ có thể tồn tại nhưng bị hạn chế và không có nhiều ý nghĩa. Nếu có tồn tại bầu cử thì cũng không tự do và công bằng. Các quyền tự do của công dân thường xuyên bị lạm dụng và xậm phạm. Truyền thông, báo chí thuộc về nhà nước hoặc bị kiểm soát bởi những nhóm có liên hệ với nhà nước. Người dân bị đàn áp nếu chỉ trích chính quyền, chế độ kiểm duyệt rất gắt gao. Ở các nước này, các cơ quan tư pháp (toà án, công tố) hoàn toàn không độc lập.

Tài liệu tham khảo:

1. Democracy Index 2006 – 2016, Intelligence Unit (The Economist).

2. Báo cáo PAPI 2015, Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc tại Việt Nam.

Tô Di / 02 Mar 2017

VNWHR tham khảo:

The Economist: Việt Nam và Lào kém dân chủ nhất Đông Nam Á

 

Sự xuất hiện, phát triển và nhận thức về vai trò của Xã hội dân sự ở Việt Nam

Trong những năm gần đây, vấn đề xã hội dân sự được giới nghiên cứu lý luận quan tâm, chú ý. Nhiều ý kiến cho rằng, trong thời đại ngày nay, xã hội dân sự là một trong ba khu vực cơ bản của xã hội, là “một đỉnh của tam giác” phát triển xã hội. Theo đó, kinh tế thị trường là điều kiện cần thiết cho sự phát triển, nhà nước pháp quyền là yếu tố quyết định trực tiếp đến sự phát triển và xã hội dân sự đảm bảo cho sự phát triển cân bằng và bền vững của xã hội.

Nội dung, phạm vi và các yếu tố cấu thành của xã hội dân sự hiện vẫn được hiểu theo nhiều cách khác nhau, nhưng nội dung cốt lõi nhất của nó chính là hệ thống các tổ chức xã hội của công dân được gắn kết bởi những nhu cầu, lợi ích chung, các giá trị hoặc truyền thống chung để tiến hành nhiều hoạt động khác nhau nhằm phối hợp với nhà nước, bổ sung cho những khiếm khuyết của nhà nước, đảm bảo sự ổn định, cân bằng và phát triển bền vững của xã hội. Xã hội dân sự là một khu vực “phi nhà nước”, bao gồm các liên hiệp, hiệp hội, hội, tổ chức cộng đồng, nhóm tình nguyện, tổ chức phi chính phủ, thực hiện các chức năng, vai trò xã hội hoặc mục đích nghề nghiệp, từ thiện, nhân đạo nhất định; hoạt động chủ yếu dựa trên tính tự chủ về tài chính, tự quản trong tổ chức quản lý và sự tự nguyện của các thành viên, hội viên với mục tiêu phi lợi nhuận, đa dạng về hình thức tổ chức, phong phú về mục tiêu cụ thể.

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội

Khoa xã hội học

Bài tiểu luận: XÃ HỘI HỌC CHÍNH TRỊ

ĐỀ TÀI: XÃ HỘI HỌC DÂN SỰ 

GVHD: Th.s Nguyễn Văn Đáng

Sinh viên:

Lớp: K53 Xã hội học

MSSV:  

Hà Nội, 2010

Sự xuất hiện, phát triển và nhận thức về vai trò của Xã hội dân sự ở Việt Nam

Bài làm

Xã hội dân sự đang là vấn đề được cả giới nghiên cứu khoa học lẫn các nhà hoạch định chính sách quan tâm. Ngày nay, Xã hội dân sự có tính phổ biến, tính toàn cầu, dù rằng các dân tộc tiến đến nó một cách nhanh chậm khác nhau. Xã hội dân sự là khái niệm khá mới trong giới nghiên cứu lý luận ở nước ta. Sở dĩ được thảo luận nhiều vì trong vòng hai thập kỷ vừu qua, các tổ chức xã hội( với chức năng dân sự) đột nhiên lại đóng vai trò chính trị quan trọng, đặc biệt là các nước ở Đông Âu và các nước trong SNG( Cộng đồng các quốc gia độc lập).

Trung tâm Xã hội dân sự của Trường đại học kinh tế London định nghĩa Xã hội dân sự như sau:    Xã hội dân sự đề cập tới một mảng các hoạt động tập thể tự nguyện xung quanh các giá trị, mục tiêu, ý thích chung. Về lý thuyết, các hình thái tổ chức xã hội dân sự khác biệt hẳn với các hình thái tổ chức nhà nước, gia đình và thị trường. Nhưng trong thực tế thì, gianh giới giữa nhà nước, xã hội dân dự, gia đình và thị trường là khá lẫn lộn, mập mờ và không rõ ràng. Xã hội dân sự thường bao gồm một sự đa dạng về phạm vi hoạt động, các thành viên tham gia và các hình thái tổ chức, khác nhau về mức độ nghi lễ, tự do và quyền lực. Xã hội dân sự thường được hình thành dưới dạng các tổ chức như các hội từ thiện, các hiệp hội, các công đoàn, các nhóm tương trợ, các phòng trào xã hội, các hiệp hội kinh doanh, các liên minh, và các đoàn luật sư.

Với mối quan tâm như vậy, việc tìm hiểu Sự xuất hiện, bản chất và chức năng của Xã hội dân sự ở Việt Nam.. Giúp chúng ta có được cái nhìn sống động, dưới góc độ tiếpcận của Xã hội học, như tìm hiểu được sự xuất hiện của Xã hội dân sự của Thế giới và xuất hiện ở Việt Nam, tìm hiểu được bản chất và chức năng của Xã hội dân sự ở Việt Nam.

Bài viết này tập trung làm rõ:

-Sự xuất hiện của xã hội dân sự ở Việt Nam.

-Sự phát triển của Xã hội dân sự ở Việt Nam.

-Nhận thức về vai trò của Xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay.

– Những bất cập, vấn đề đáng quan tâm nhất.

1.Sự xuất hiện của Xã hội dân sự ở Việt Nam.

1.1Sự xuất hiện của Xã hội dân sự trên thế giới, và sự phát triển của nó trên thế giới.

Thuật ngữ “xã hội dân sự” đã xuất hiện cách đây hàng ngàn năm và trở nên tương đối thịnh hành vào thời Khai sáng. Một thời gian dài sau đó, nó ít được nhắc đến, hoặc có chăng, chỉ được giới khoa học đề cập một cách tản mạn.

Có thể do vai trò của xã hội dân sự ở Liên Xô và các nước Đông Âu trong thời kỳ chuyển đổi của những năm cuối thập niên 80, những năm đầu thập niên 90 thế kỷ XX và một vài lý do khác, nên ở nước ta, thuật ngữ xã hội dân sự ít được bàn luận vì nó thường được cho là mang hàm ý tiêu cực. Cho đến gần đây, cụm từ này đôi lúc vẫn còn được xem là nhạy cảm. Tuy nhiên, trong tiến trình dân chủ hóa ở nước ta hiện nay và trong xu thế hội nhập, “ xã hội dân sự” là thuật ngữ thường được nhắc đến và được bàn luận khá cởi mở.

Xã hội dân sự ở phương Tây có nguồn gốc từ đời sống xã hội ở Hy Lạp cổ đại: các polis Hy Lạp cổ và các đô thị La Mã cổ với những “công dân tự do ” xuất hiện lần đầu tiên trong lịch sử. Thuật ngữ xã hội dân sự, theo tiếng Hy Lạp là koinonia politiké (tiếng Pháp: société civile, tiếng Anh: civil society và trong tiếng Nga grazhdanskoe obchtsestvo, có khi nó được dịch thành xã hội công dân để nhấn mạnh đến vị trí của các công dân trong xã hội).

Nhưng ý thức xã hội dân sự thực sự có bước phát triển mạnh mẽ với những nội dung sâu sắc hơn được thể hiện trong các tác phẩm của các nhà tư tưởng xuất sắc ở thế kỷ XVI như J. Rodin (Pháp), T. Hobbes (Anh), B. Spinoza (Hà Lan) v.v.. Họ bắt đầu đưa ra sự phân biệt giữa xã hội và nhà nước, phản ảnh sự trỗi dậy của các cá nhân ở các đô thị vào buổi đầu hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản. J. Rodin, một học giả người Pháp vào thời xảy ra các cuộc chiến tranh tôn giáo, đã đưa ra nguyên lý về tính tối thượng của nhà nước. Theo ông, nhà nước có quyền tối thượng đối với tất cả các thành viên xã hội và tất cả những gì thuộc về nó. Nhà nước chỉ hình thành khi những thành viên tản mạn của xã hội thống nhất lại dưới một quyền lực thống nhất. T. Hobbes, người coi trạng thái tự nhiên của xã hội là “chiến tranh của tất cả chống lại tất cả”], cho rằng nhà nước có sứ mệnh khắc phục trạng thái đó bằng cách thiết lập một sự thỏa thuận giữa tất cả các thành viên của xã hội. Xã hội dân sự nảy sinh trên cơ sở thỏa thuận ấy được coi là đồng nghĩa với nhà nước và luật pháp do nhà nước đặt ra.

Đến thế kỷ XVIII, J. J. Rousseau, một trong những nhà Khai sáng xuất sắc nhất, đã phát triển quan điểm của Hobbes. Đối với ông, con người vì mất đi sự tự do tự nhiên của mình và cũng vì sợ mất đi cả các quyền tự nhiên của mình nên đã đi tới một khế ước xã hội. Nhờ có sự liên hiệp này mà người ta thống nhất lại với nhau trên cơ sở phục tùng những thể thức chung, nhưng mỗi người vẫn có tự do như trước đây.

  1. Hobbes, J. Locke, J. J. Rousseau, Montesquieu đều có chung quan điểm là tự do cá nhân của con người độc lập với nhà nước. Chẳng hạn, theo Locke, xã hội có trước nhà nước, nó tồn tại một cách “tự nhiên”, còn nhà nước là một “vật mới”. Nếu nhà nước vì một lý do nào đó bị xóa bỏ đi thì xã hội vẫn được duy trì bằng tất cả các luật và quyền tự nhiên của nó. Người dân hợp thành xã hội, nó là tối thượng và khi thiết lập nhà nước, tuy tính tối thượng chuyển sang nhà nước nhưng nhà nước không thể nuốt mất xã hội. Hơn thế nữa, mục đích chủ yếu của nhà nước là bảo vệ xã hội. Do đó, nhà nước không thể thay thế được xã hội, chính là nhờ có xã hội mà nhà nước có thể hoạt động được.

Cả Hobbes, Locke, Montesquieu và Rousseau đều cho rằng dân chủ chỉ có thể nảy nở trên một sự thỏa thuận mang tính khế ước giữa công dân và nhà nước, về việc hạn chế và phân chia quyền lực nhà nước để quyền lực ấy thực chất thuộc về nhân dân. Chừng nào, sự thỏa thuận ấy bị phá vỡ, chừng ấy nhân dân có quyền xác lập một khế ước mới bằng nhiều cách khác nhau, và đó cũng hoàn toàn là quyền tự nhiên của con người.

Mở đầu Khế ước xã hội, Rousseau đã phải thốt lên đau đớn rằng, “con người sinh ra là tự do, vậy mà ở khắp nơi, con người lại bị cùm kẹp”. Do vậy, cách tốt nhất để lấy lại sự tự do như là quyền tự nhiên của con người đó chính là việc cần phải tổ chức thiết chế xã hội sao cho quyền tự nhiên ấy không bị xâm phạm và tước đi một cách tùy tiện từ phía nhà nước và bộ máy công quyền.

Đối với Hobbes và Rousseau đó là sự thỏa thuận bằng khế ước xã hội, đối với Locke và Montesquieu, đó là sự phân chia quyền lực nhà nước một cách độc lập và chế ước lẫn nhau. Do đó, dân chủ gắn liền với nhà nước pháp quyền và xã hội công dân. Nền dân chủ không thể sản sinh trong một xã hội mà ở đó nguyên tắc cai trị do các cá nhân tùy tiện và thao túng. Trái lại, dân chủ là kết quả trong một xã hội được tổ chức, thiết chế, và vận hành trên nguyên tắc luật pháp và phân chia quyền lực, cũng như có sự tham gia mạnh mẽ của các thiết chế phi chính trị và phi nhà nước đóng vai trò là lực lượng xã hội đối trọng nhằm giám sát và cân bằng với thiết chế chính trị và nhà nước trong việc thực thi dân chủ.

Hegel – Nhà triết học Đức vĩ đại đầu thế kỷ XIX – đã tiếp nhận và hệ thống hóa tư tưởng xã hội – chính trị của Pháp, Anh, Mỹ và Đức trong vấn đề này. Tác phẩm Triết học pháp quyền của ông đã chứng minh rằng xã hội dân sự là một giai đoạn phát triển lịch sử mà đỉnh cao của nó là sự xuất hiện nhà nước hiện đại. Nói chính xác hơn, Hegel coi xã hội dân sự là một giai đoạn đặc biệt trong sự vận động biện chứng từ gia đình đến nhà nước, diễn ra trong quá trình biến đổi lịch sử phức tạp và lâu dài từ Trung Cổ đến Cận đại. Theo ông, đời sống xã hội hoàn toàn khác với đời sống đạo đức của gia đình và cũng khác với đời sống công cộng của nhà nước. Nó là một yếu tố cần thiết trong toàn bộ cộng đồng chính trị được tổ chức một cách hợp lý. Theo Hegel, kinh tế thị trường, các giai cấp xã hội, các nghiệp đoàn, các định chế có nhiệm vụ bảo đảm sức sống của xã hội và thực hiện các quyền công dân. Như vậy, xã hội dân sự là tập hợp của những tư nhân, tầng lớp, những nhóm và những định chế mà sự tác động qua lại của chúng được điều chỉnh bằng qui tắc của dân luật và với tư cách đó, nó không phụ thuộc trực tiếp vào nhà nước chính trị.

  1. Marx, trong các tác phẩm đầu tay, đặc biệt trong Hệ tư tưởng ÐĐức và vấn đề Do Thái, đã bàn nhiều về xã hội dân sự. Một mặt, kế thừa những luận điểm “hợp lý” của Hegel; mặt khác, ông phê phán Hegel một cách quyết liệt. Cũng như Hegel, ông từng coi xã hội dân sự là một hiện tượng lịch sử, là kết quả của sự phát triển lịch sử mà không phải là “vật ban tặng” của tự nhiên. Và cũng như Hegel, ông coi xã hội dân sự có tính chất tạm thời. Sự khác nhau cơ bản giữa Marx và Hegel là điểm xuất phát khi phân tích về bản chất của xã hội dân sự và nhà nước, về những quan hệ giữa xã hội dân sự với nhà nước. Trong khi Hegel lấy “tinh thần phổ biến” và “ý niệm tuyệt đối ” làm điểm xuất phát thì Marx lấy đời sống hiện thực, trước hết là phương thức sản xuất của xã hội, làm điểm xuất phát. “Sự giải phóng chính trị là đưa con người, một mặt, trở thành thành viên của xã hội thành cá nhân vị kỷ và độc lập, và mặt khác, trở thành công dân, thành cá nhân đạo đức”. Ông cho rằng chỉ khi nào sức mạnh con người được tổ chức thành sức mạnh xã hội và chính trị, khi đó sự giải phóng con người mới hoàn thành.

Sau một giai đoạn dường như bị “chìm” đi, hoặc có chăng, cũng chỉ là sự nghiên cứu mang tính tản mạn của các nhà khoa học, thời gian gần đây, khái niệm xã hội dân sự như được “hồi sinh” và là một phương cách trung tâm để lý giải các quá trình chính trị – xã hội diễn ra ở khắp nơi trên thế giới, kể cả các nước phương Tây cũng như các nước phương Đông.

Quá trình dân chủ hóa ở các nước phát triển phương Tây đã đi tới một giai đoạn mới: chế độ dân chủ đại diện đang mất đi sức sống và những tiền đề cho một chế độ dân chủ trực tiếp, dân chủ tham gia đang dần dần xuất hiện. Khách quan mà nói, dân chủ đại diện là một thành quả rất lớn của dân chủ, của sự phát triển xã hội về mặt chính trị và bản thân chế độ dân chủ đại diện cũng chính là một trong nhũng thành quả to lớn của xã hội dân sự, nhưng đến giai đoạn này, do nhiều lý do khác nhau, nó bắt đầu xơ cứng, kém hiệu lực. Ở một mức độ nào đó, trở thành kém dân chủ, thậm chí trở thành tấm “bình phong” và là công cụ của các nhà tư bản. Sự quan liêu trong bộ máy nhà nước không những không giảm mà còn có xu hướng tăng lên. Mặt khác, đời sống chính trị – xã hội càng phức tạp, nhà nước tư sản càng phải đặt ra nhiều qui định vi phạm quyền tự do dân chủ. Đặc biệt trong thời gian gần đây, với danh nghĩa chống bạo loạn, khủng bố, nhiều nhà nuớc tư sản ban hành các qui định, có thể nói là vi phạm nghiêm trọng các quyền con người, quyền công dân.

1.2.Xã hội dân sự xuất hiện ở Việt Nam.

Việt Nam có Xã hội dân sự chưa?

Xã hội dân sự là xã hội của tổ chức. Phải chăng trên một ý nghĩa như vậy ở Việt Nam đã có Xã hội dân sự rồi. Thời Bác hồ đã có quy định về lập hội. Nhà nước của dân… là thừa nhận đã có Xã hội dân sự rồi. Nếu hiểu Xã hội dân sự theo nghĩa đầy đủ, thì chúng ta mới có ở mức sơ khai, còn khi nào có nhà nước pháp quyền thật sự thì Xã hội dân sự mới phát triển. Không có nhà nước pháp quyền mạnh không có Xã hội dân sự mạnh và ngược lại. Cũng nên hiểu như giữa Xã hội dân sự và kinh tế thị trường.

Xã hội dân sự trên thế giới có từ rất lâu nhưng ở Việt Nam, khái niệm này còn mơ hồ mà có lý do khách quan là Việt Nam trải qua chiến tranh nhiều năm nên mối quan hệ dân sự trong xã hội bị giảm sút. Tuy nhiên, XHDS bây giờ đang nổi lên hỗ trợ cho nhà nước mà ta thường hiểu là chủ trương “xã hội hóa”.

Ở nước ta với đặc thù tiến lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa , bởi vậy , chúng ta không có cơ hội thừa hưởng những “gia tài” do CNTB để lại . Một trong những “thiệt thòi” lớn nhất đối với chúng ta là quan hệ phong kiến, những quan hệ này đáng lí đã bị CNTB loại bỏ, song trên thực tế vẫn tồn tại dai dẳng và níu kéo, cẩn trở chúng ta trên con đường phát triển và hội nhập quốc tế. Bởi thế, từ trong nhận thức và trong thực tiễn, quá trình xây dựng chế độ Nhà nước pháp quyền còn gặp nhiều trở ngại, khó khăn. Tương ứng với nó là việc nhận thức và xây dựng Xã Hội dân sự cũng không ít những cản trở.

Ở nước ta quá trình xây dựng XHDS còn nhiều bất cập, tự phát. Có nhận xét rằng dân sự mà không hoàn toàn dân sự, dân chủ nhưng không hoàn toàn dân chủ, không dộc quyền mà độc quyền. Từ nhà nước, kinh tế thị trường với những nhược điểm của nó mà xuất hiện XHDS. Nhưng XHDS ở Việt Nam đã xuất hiện tự phát. Chúng ta chưa ai có đủ khung pháp lý và không gian cho xã hội dân sự hình thành tự giác.

  1. Sự phát triển Xã hội dân sự ở Việt Nam.

Từ những năm 90 của thế kỉ XX trên phạm vi toàn cầu, cùng với việc tăng lên đáng kể vai trò  của nhà nước trong đời sống xã hội, vai trò của các CSO cũng ngày càng được khẳng định, đặc biệt trong thực hiện hóa các mục tiêu phát triển thiên niên kỉ. Phối hợp cùng với nhà nước, CSO hoạt động thực sự có hiệu quả trong việc thực hiện các mục tiêu xóa đói giảm nghèo, thực hiện sự bình đẳng giới, tăng tính minh bạch dân chủ và nhất là khuyến khích sự tham gia của người dân vào quá trình hoạch định và thực thi các chính sách phát triển kinh tế- xã hội.

Ở Việt nam, từ sau ngay miền nam hoàn toàn giải phóng, nhà nước thống nhất, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, cùng với mặt trận và các đoàn thể quần chúng, các nhóm và các các tổ chức xã hội nghề nghiệp hợp thành các CSO đã và đang đóng vai trò ngày càng tăng trong sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa, đặc biệt trong việc thực hiện quyền dân chủ nhân dân.

Từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, bắt đầu từ đổi mới tư duy chính trị, việc nhìn nhận và đánh giá các tổ chức chính trị xã hội cũng ngày càng cởi mở và thực chất hơn. Và do đó CSO cũng có cơ hội phát triển và phát huy vai trò to lớn của mình không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, chính trị.

Mặc dù, ở Việt nam, các tổ chức có thể gọi là xã hội dân sự đã có từ trong xã hội truyền thống ( dòng họ, phường hội, nghề nghiệp …) song quan niệm về thuật ngữ này không phải rõ ràng và xác thực mà trải qua một quá trình thay đổi về nội hàm khái niệm, cách diễn giải. Nhờ quá trình đổi mới, xã hội dân sự từ chỗ là một thuật ngữ, các tổ chức xã hội dân sự như NGO, NPO ra đời và tăng lên nhanh chóng về số lượng. Có thể nói quá trình hình thành và phát triển của xã hội dân sự ở Việt nam diễn ra trong bối cảnh môi trường ngày càng được thuận lợi hơn bởi sự ra đời của hệ thống luật hỗ trợ ( Luật Doanh nghiệp, Nghị định dân chủ, Nghị định về hội, … ), sự phát triển nhanh chóng của kĩ thuật thông tin mạng, sự hội nhập nghiên cứu về lĩnh vực này. Có thể nói, tính đặc thù của xã hội dân sự ở Việt nam là các tổ chức xã hội dân sự đều có liên quan phụ thuộc trực tiếp và gián tiếp với Đảng và nhà nước.

Nước ta có 6 tổ chức mà đảng cầm quyền và tuy nhà nước chi phối trực tiếp qua đường lối và kinh phái tài chính như Mặt trận tổ quốc, Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp phụ nữ, Công đoàn, Hội nông dân, Hội nhà báo nhưng nó vẫn thuộc xã hội dân sự.

Ở Việt Nam ta xã hội dân sự trong quá trình hình thành của nó sẽ thể hiện thể hiện khá rõ mạnh:

– Thấm nhuần về mặt văn hóa cộng đồng, tính đoàn kết, tương trợ và tính đồng thuận xã hội, có mầm mống trong xã hội làng xã xưa.

– Trong xã hội thực dân phong kiến cũng hình thành nên những tổ chức xã hội, hoặc để đấu tranh chính trị hoặc để bảo vệ các quyền lợi xã hội trong đời sống bình thường trước các thế lực cường quyền.

– Nhưng xã hội học dân sự ở Việt nam ngày nay còn là xã hội trong thể chế một đảng cầm quyền, nhất nguyên chính trị nên xã hội dân sự ở đây có thể cơ cấu tổ chức chính trị xã hội trong xã hội dân sự và trong hệ thống chính trị sẽ mang tính trung gian 2 mặt.

– Xã hội dân sự ở Việt nam ngày nay sẽ là dựa trên nền kinh tế nhiều thành phần cả công và cả tư, định hướng xã hội chủ nghĩa, chứ không phải xã hội dân sự mang tính chất tư bản chủ nghĩa.

– Xã hội dân sự ở Việt nam cơ bản không mang tính đối kháng trong nó và với nhà nước. Tính đồng thuận và đoàn kêt xã hội của xã hội dân sự khá cao, nhưng các tiổ chức hoạt đỘng còn phân tán, tính pháp lý chưa đủ và cần thiết.

Ở nước ta, trong công cuộc đổi mới, cùng với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và dân chủ hoá đời sống xã hội, Nhà nước đã từng bước chuyển sang thực hiện chức năng định hướng, bảo trợ, tạo lập môi trường và điều kiện thuận lợi cho người dân được tự do phát triển sản xuất kinh doanh, tổ chức cuộc sống. Nhờ đó, khu vực xã hội dân sự ngày càng có điều kiện phát triển, quan hệ xã hội của người dân được tự do, cởi mở hơn; nhu cầu giao tiếp, liên hệ giữa các cá nhân có điều kiện được thoả mãn; tính tích cực xã hội của người dân, của các đoàn thể nhân dân, các hội, tổ chức phi chính phủ, các nhóm xã hội có tư cách pháp nhân và không có tư cách pháp nhân được phát huy mạnh mẽ, góp phần vào sự phát triển của đất nước

Mặt khác, xu thế đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng đa phương hoá, đa dạng hoá trong quan hệ quốc tế đòi hỏi các quan hệ đối ngoại không chỉ được thực hiện theo con đường của Nhà nước, mà còn bằng các hình thức đối ngoại nhân dân thông qua các đoàn thể nhân dân, các hội, tổ chức phi chính phủ.

Hiện nay, ở nước ta, bên cạnh các đoàn thể nhân dân có truyền thống lịch sử gắn với quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, các hội, tổ chức phi chính phủ đã, đang được thành lập và hoạt động trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội với nhiều mô hình rất đa dạng, phong phú. Tính đến tháng 6 – 2005, đã có 320 hội hoạt động trên phạm vi toàn quốc, hơn 2.150 hội có phạm vi hoạt động tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và hàng chục vạn hội, tổ chức cộng đồng tự quản, tổ hoà giải có phạm vi hoạt động tại các quận, huyện, thị xã, thị trấn, xã, thôn, làng, ấp, bản… Đồng thời, hiện có khoảng 600 tổ chức phi chính phủ nước ngoài có quan hệ với Việt Nam, trong đó có gần 350 tổ chức có chương trình, dự án đối tác với Việt Nam. Nhiều tổ chức đang đề nghị Chính phủ Việt Nam cho lập các văn phòng đại diện, văn phòng dự án…

Ngoài các hội, tổ chức phi chính phủ được thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, còn có các hội quần chúng, tổ chức cộng đồng có tính truyền thống hoặc do người dân tự nguyện thành lập, không có tư cách pháp nhân (hay còn gọi là hội không chính thức), như tổ, nhóm tự quản, hội đồng hương… và các câu lạc bộ.

Để có thể thúc đẩy sự phát triển của xã hội dân sự ở nước ta hiện nay, trước hết cần nhận thức đúng về vai trò, vị trí của của các đoàn thể nhân dân, các hội, tổ chức phi chính phủ trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

  1. Nhận thức về vai trò của xã hội dân sự hiện nay

Trong những năm gần đây, vấn đề xã hội dân sự được giới nghiên cứu lý luận quan tâm, chú ý. Nhiều ý kiến cho rằng, trong thời đại ngày nay, xã hội dân sự là một trong ba khu vực cơ bản của xã hội, là “một đỉnh của tam giác” phát triển xã hội. Theo đó, kinh tế thị trường là điều kiện cần thiết cho sự phát triển, nhà nước pháp quyền là yếu tố quyết định trực tiếp đến sự phát triển và xã hội dân sự đảm bảo cho sự phát triển cân bằng và bền vững của xã hội.

Nội dung, phạm vi và các yếu tố cấu thành của xã hội dân sự hiện vẫn được hiểu theo nhiều cách khác nhau, nhưng nội dung cốt lõi nhất của nó chính là hệ thống các tổ chức xã hội của công dân được gắn kết bởi những nhu cầu, lợi ích chung, các giá trị hoặc truyền thống chung để tiến hành nhiều hoạt động khác nhau nhằm phối hợp với nhà nước, bổ sung cho những khiếm khuyết của nhà nước, đảm bảo sự ổn định, cân bằng và phát triển bền vững của xã hội. Xã hội dân sự là một khu vực “phi nhà nước”, bao gồm các liên hiệp, hiệp hội, hội, tổ chức cộng đồng, nhóm tình nguyện, tổ chức phi chính phủ,… thực hiện các chức năng, vai trò xã hội hoặc mục đích nghề nghiệp, từ thiện, nhân đạo… nhất định; hoạt động chủ yếu dựa trên tính tự chủ về tài chính, tự quản trong tổ chức quản lý và sự tự nguyện của các thành viên, hội viên với mục tiêu phi lợi nhuận, đa dạng về hình thức tổ chức, phong phú về mục tiêu cụ thể.

Trong lịch sử, các hình thức liên hiệp đã xuất hiện từ xa xưa, thậm chí còn có trước khi xuất hiện nhà nước. Nhưng phải đến thời đại tư bản chủ nghĩa, khi mối quan hệ giữa các cộng đồng đó được xác lập trên cơ sở chính trị – pháp lý nhất định, lúc đó xã hội dân sự mới thực sự ra đời.

Ngày nay, kinh tế thị trường đã tỏ rõ ưu thế và trở thành khuynh hướng chủ đạo trong sự phát triển của nền kinh tế thế giới. Mặc dầu vậy, nền kinh tế thị trường không phải là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi vấn đề của sự phát triển xã hội. Do bản chất của nó, kinh tế thị trường có những nhược điểm và giới hạn nhất định, nhất là trong các lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường sống. Vì vậy, để khắc phục những hạn chế đó, cần phải có sự tham gia phối hợp của nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự.

Nhà nước pháp quyền trong xu thế phát triển ngày càng có tính phổ biến của nền chính trị hiện đại đã thể hiện những ưu thế, tính hiệu quả trong việc tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước, dân chủ hóa xã hội. Nhưng, nhà nước cũng không phải là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi vấn đề của sự phát triển xã hội. Bản thân nhà nước pháp quyền cũng gặp phải những giới hạn và thách thức nhất định, như nguồn lực cần thiết để tổ chức và vận hành khá lớn, phải có những điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định và việc xây dựng nhà nước đó là một quá trình lâu dài, khó khăn và phức tạp. Mâu thuẫn giữa tính bắt buộc, quy chuẩn có giới hạn của pháp luật và sự phong phú, sinh động, đa dạng của nhu cầu mọi mặt của cá nhân cũng như của xã hội bắt đầu xuất hiện. Pháp luật là tối thượng, nhưng trong không ít trường hợp, khi đã nắm được quyền lực công, các tổ chức và cá nhân được trao quyền trở nên quan liêu, tha hóa, tự đặt mình lên trên xã hội. Thậm chí, những người cai trị “bảo đảm quyền này của họ bằng những đạo luật đặc biệt, những đạo luật khiến cho họ trở thành đặc biệt thần thánh và đặc biệt bất khả xâm phạm. Trong tình huống này, tính tối thượng của pháp luật có thể lại là mối nguy hiểm cho xã hội.

Quá trình phát triển của xã hội hiện đại cho thấy một thực tế hiển nhiên là các cơ quan nhà nước và đội ngũ công chức nhà nước, dù hết sức tận tụy cống hiến hay có tinh thần vì công chúng như thế nào đi chăng nữa, thì cũng không thể dự kiến trước được tất cả các hàng hoá công cộng và dịch vụ mà các công dân muốn có. Việc xuất hiện những biện pháp thay thế của các tổ chức quần chúng, tổ chức phi chính phủ và tư nhân có thể giúp lấp đi những khoảng trống trong việc cung cấp hàng hoá công cộng, cũng như cung cấp những hàng hoá và dịch vụ công nào mà các cá nhân muốn trả bằng tiền của riêng họ. Các đoàn thể nhân dân, các hội có thể vừa là những cộng sự, vừa là những đối thủ cạnh tranh trong việc cung cấp các dịch vụ công.

Hơn nữa, trong điều kiện ngày nay, do nhu cầu cá nhân tăng lên, sự liên kết giữa các cá nhân và cộng đồng trở nên đa dạng hơn, phạm vi hoạt động của xã hội ngày càng phát triển phong phú và mở rộng. Nhà nước không thể và không nên trực tiếp đáp ứng tất cả nhu cầu đó, mà cần phải chuyển giao dần một phần công việc này cho các tổ chức thuộc khu vực xã hội dân sự. Trên thực tế, nhiều việc giao cho các tổ chức xã hội – nghề nghiệp quản lý lại có hiệu quả hơn vì tính chất linh hoạt, năng động, sát thực tế công việc và đảm bảo tính khách quan hơn, ví dụ như chức năng tư vấn, phản biện, giám định xã hội đối với các lĩnh vực chuyên môn nghề nghiệp…

Những giới hạn của nhà nước nêu trên chỉ có thể được khắc phục một cách hiệu quả khi xây dựng và phát triển xã hội dân sự, tức là phát huy vai trò của xã hội dân sự, huy động sự tham gia rộng rãi của người dân và cộng đồng vào công việc xã hội, mà tựa hồ như đã trao cho nhà nước và được coi là chức năng cơ bản, cơ sở của sự thống trị chính trị của nhà nước.

Chức năng của xã hội dân sự bao gồm: thứ nhất, là cầu nối, kênh truyền dẫn tiếng nói, nguyện vọng của người dân đến với nhà nước hay nói cách khác, là xã hội hóa các cá nhân, nối cá nhân với hệ thống xã hội; thứ hai, tham gia hoạch định các chủ trương, chính sách của nhà nước, phối hợp với nhà nước trong hoạch định, thực hiện và giám sát thực hiện các chính sách, góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp lý: thứ ba, tổ chức phản biện xã hội đối với các chủ trương, chính sách cũng như việc thực hiện chính sách, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, kiểm soát và giám sát phẩm chất, hành vi của đội ngũ công chức nhằm góp phần chống quan liêu, tham nhũng, nâng cao hiệu lực và hiệu quả của nhà nước: thứ tư, phát huy các nguồn lực và tính năng động, sáng kiến của các tầng lớp dân cư, tham gia hoạt động cung cấp dịch vụ công như giáo dục, y tế, văn hoá, khoa học, bảo vệ môi trường, xoá đói giảm nghèo,… tạo điều kiện nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi người và của toàn xã hội.

Cả bốn chức năng trên đều quan trọng và có quan hệ chặt chẽ với nhau. Việc xem nhẹ một trong các chức năng đó biểu hiện sự nhận thức không đúng về vai trò, chức năng của xã hội dân sự và ảnh hưởng đến sự ổn định, phát triển của xã hội.

Mục tiêu của xã hội dân sự hiện đại là phát triển và hoàn thiện con người, coi đó là điều kiện để phát triển cộng đồng, xã hội và nhân loại. Sự phát triển của xã hội dân sự hướng tới những giá trị tiến bộ chung của nhân loại; đồng thời, phụ thuộc vào tính giai đoạn, đặc điểm lịch sử cụ thể của từng nước cũng như hình thức, kiểu nhà nước và hệ thống chính trị của mỗi quốc gia.

Tuy nhiên, xã hội dân sự là một khu vực không thuần nhất, tính đồng thuận không cao và thiếu tính nhất quán. Mặt khác, bản thân xã hội dân sự cũng có những giới hạn và gặp phải một số thách thức nhất định, đó là khi các hiệp hội, hội, tổ chức cộng đồng chỉ chăm lo đến lợi ích cục bộ của mình mà không quan tâm đến lợi ích toàn xã hội. Khi đó, tính tự chủ, tự nguyện và tự quản của xã hội dân sự sẽ có nguy cơ tạo ra các “lệ” riêng, cản trở việc thực thi chính sách và pháp luật của Nhà nước, hạn chế sự phát triển chung của xã hội. Vì vậy, các thể chế của xã hội dân sự cần phải được quản lý và định hướng bằng pháp luật của nhà nước, nhằm tạo ra một môi trường dân chủ, lành mạnh cho sự phát triển hài hoà của toàn xã hội. Nói cách khác, điều kiện để hình thành một xã hội dân sự lành mạnh là phải có một nhà nước pháp quyền vững mạnh, có hiệu lực và hiệu quả để xây dựng khung pháp luật, tạo môi trường thuận lợi, bảo vệ và trợ giúp cho xã hội dân sự, phục vụ xã hội dân sự.

Ở nước ta, trong công cuộc đổi mới, cùng với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và dân chủ hoá đời sống xã hội, Nhà nước đã từng bước chuyển sang thực hiện chức năng định hướng, bảo trợ, tạo lập môi trường và điều kiện thuận lợi cho người dân được tự do phát triển sản xuất kinh doanh, tổ chức cuộc sống. Nhờ đó, khu vực xã hội dân sự ngày càng có điều kiện phát triển, quan hệ xã hội của người dân được tự do, cởi mở hơn; nhu cầu giao tiếp, liên hệ giữa các cá nhân có điều kiện được thoả mãn; tính tích cực xã hội của người dân, của các đoàn thể nhân dân, các hội, tổ chức phi chính phủ, các nhóm xã hội có tư cách pháp nhân và không có tư cách pháp nhân được phát huy mạnh mẽ, góp phần vào sự phát triển của đất nước.

Mặt khác, xu thế đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng đa phương hoá, đa dạng hoá trong quan hệ quốc tế đòi hỏi các quan hệ đối ngoại không chỉ được thực hiện theo con đường của Nhà nước, mà còn bằng các hình thức đối ngoại nhân dân thông qua các đoàn thể nhân dân, các hội, tổ chức phi chính phủ.

Nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức quần chúng, các hội trong sự nghiệp đổi mới đất nước, ngay từ năm 1990, trong Nghị quyết số 8B-NQ/ HNTW (khoá VI), Đảng ta đã chủ trương: “Trong giai đoạn mới, cần thành lập các hội đáp ứng nhu cầu chính đáng về nghề nghiệp và đời sống nhân dân hoạt động theo hướng ích nước, lợi nhà, tương thân, tương ái. Các tổ chức hội quần chúng được thành lập theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản và tự trang trải về tài chính trong khuôn khổ pháp luật”. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng định: “Mở rộng và đa dạng hoá các hình thức tập hợp nhân dân tham gia các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội, các hội nghề nghiệp, văn hoá, hữu nghị, từ thiện – nhân đạo…

  1. Những bất cập, vấn đề đáng quan tâm nhất.

Không thể có “xã hội dân sự” nếu không có “Nhà nước pháp quyền”, ngược lại, “nhà nước pháp quyền”không thể hoạt động tốt, nếu không có “xã hội dân sự”.

Phải mất một thời gian dài, ở nước ta “nhà nước pháp quyền” mới được dần dần nói đến và rồi định hình với Đại hội VIII. Nhưng ngay khi “Nhà nước pháp quyền” đã được khẳng định bằng cách thêm vào đó một cái đuôi “xã hội chủ nghĩa” cho an tâm, thì cái “nhà nước pháp quyền XHCN” ấy vẫn còn kiêng dè, e ngại với cái gọi là “xã hội dân sự”.

Xã hội dân sự nổi bật lên với nhiều tác dụng nhưng tóm tắt lại, điều quan trọng nhất cần hiểu rõ, thì đó chính là đối tác bình đẳng của Nhà nước chứ không phải là cái đuôi của Nhà nước. Nó giữ vai trò là “đối quyền của quyền lực Nhà nước”, mà về thực chất, là tạo điều kiện để người dân thực sự tham gia vào việc hoạch định, thực hiện và giám sát các chủ trương và chính sách của Nhà nước, thực hiện trách nhiệm phản biện xã hội đối Nhà nước, kể cả phẩm chất và hành vi của viên chức Nhà nước.

Để hiểu cho đúng, không e ngại về “xã hội dân sự”, phải hiểu kỹ về “nhà nước pháp quyền”. Quốc hội, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, đặt vấn đề nghiên cứu về “Xã hội dân sự và việc tham gia của các tổ chức xã hội vào quy trình lập pháp của Quốc hội”, chủ đề của một Hội thảo khoa học do Văn phòng Quốc Hội, Trung tâm Thông tin, Thư viện và Nghiên cứu Khoa học phối hợp với Dự án Hỗ trợ thể chế cho Việt Nam của Ủy ban Châu Âu tổ chức là một ghi nhận rất đáng mừng. Vì như vậy là vấn đề “xây dựng xã hội dân sự” đã chính thức đi vào đời sống pháp lý nói riêng và đời sống xã hội – chính trị của đất nước, khi mà tiến trình hội nhập đi vào chiều sâu, đánh dấu một cột mốc trong quá trình dân chủ hóa xã hội đang diễn ra.

  1. Kết luận

Như vậy:

Xu thế toàn cầu xã hội dân sự hiện đại đang diễn ra. Quá trình toàn cầu hoá đã thúc đẩy các luồng di chuyển tư bản, vốn, tư nhân hoá, tự do hoá thương mại, đầu tư nước ngoài, cải cách thuế và đảm bảo quyền sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, giao lưu văn hoá, khoa học, công nghệ và giáo dục. Trong quá trình này, mô hình kinh tế thị trường ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế của các quốc gia. Tuy nhiên, hạn chế lớn của toàn cầu hoá là các vấn đề bất bình đẳng, ô nhiễm môi trường, buôn bán trẻ em quốc tế, quyền con người, sức khoẻ cộng đồng, cũng mang tính quốc tế hoá mà bản thân thị trường quốc tế không có cơ chế giải quyết được. Trong khi đó, một số nhà nước thì gặp nhiều khiếm khuyết như nạn tham nhũng, bộ máy hành chính kém hiệu quả, không giải quyết được các hạn chế của toàn cầu hoá và các vấn đề liên quốc gia liên vùng. Chính vì thế có xu thế hình thành nên các tổ chức CSO quốc tế, NGO, NPO…

Hiện nay, xã hội dân sự đang có sự phát triển lớn cả về số lượng và chất lượng, điều này đang chứng tỏ vai trò to lớn và cần thiết của chúng. Ở Việt nam, các tổ chức  đang trong qúa trình hình thành và phát triển, tuy còn chưa có tính độc lập tương đối và khoảng cách rõ ràng đối với nhà nước nhưng về cơ bản các tổ chức dân sự vẫn thực hiện tốt vai trò và chức năng của mình, nâng cao tính dân chủ của nhà nước ta.

Khi đi sâu tìm hiểu Sự xuất hiện, phát triển và nhận thức về vai trò của Xã hội dân sự ở Việt Nam các tổ chức dân sự khi ra đời đều không mang tính lợi nhuận, kinh tế và có nguồn gốc phi chính trị.

Trong điều kiện ngày nay, do nhu cầu cá nhân tăng lên, sự liên kết giữa các cá nhân và cộng đồng trở nên đa dạng hơn, phạm vi hoạt động của xã hội ngày càng phát triển phong phú và mở rộng. Nhà nước không thể và không nên trực tiếp đáp ứng tất cả nhu cầu đó, mà cần phải chuyển giao dần một phần công việc này cho các tổ chức thuộc khu vực xã hội dân sự. Trên thực tế, nhiều việc giao cho các tổ chức xã hội – nghề nghiệp quản lý lại có hiệu quả hơn vì tính chất linh hoạt, năng động, sát thực tế công việc và đảm bảo tính khách quan hơn, ví dụ như chức năng tư vấn, phản biện, giám định xã hội đối với các lĩnh vực chuyên môn nghề nghiệp…

Để có thể thúc đẩy sự phát triển của xã hội dân sự ở nước ta hiện nay, trước hết cần nhận thức đúng về vai trò, vị trí của của các đoàn thể nhân dân, các hội, tổ chức phi chính phủ trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

 

  1. “ Xã hội dân sự ở khu vực Đông Á”, TS Vũ Minh Chi, Viện nghiên cứu Con người- Viện khoa học xã hội Việt nam.
  2. “ Sự biến đổi Xã hội dân sự trong một đất nước Việt nam đang chuyển mình”, TS Vũ Minh Chi. Viện nghiên cứu Con Người- Viện khoa học xã hội Việt nam.
  3. “ Xã hội công dân và xã hội dân sự : từ Arixtot đến Heefghen”, ThS Trần Tuấn Phong, Viện Triết học- Viện khoa học xã hội Việt nam.
  4. “ Xã hội dân sự : Khái niệm và các vấn đề”, TS Bùi Quang Dũng, Viện xã hội xã học- Viện khoa học xã hội Việt nam.
  5. Tài liệu Xã hội học chính trị, S Nguyễn Văn Đáng.
  6. Những nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nxb Chính trị quốc gia.

7. Tạp chí KHPL số1(38)/2007 : Vài nét về Xã hội dân sự trong lịch sử và kinh nghiệm đối với nước ta.

ThS. Luật học, ĐH Luật Vũ Văn Khiêm Tp. Hồ Chí Minh.

8.Tạp chí Triết học.

9.Tạp chí Xã hội học.

10.Xã hội học.( Lê Ngọc Hùng, Phạm Tất Dong)

11.Tạp chí Nghiên cứu con người, số 4 năm 2009

 12.http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2009/04/10/2633/

Chính phủ Úc đòi thả Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Văn Đài và Cấn Thị Thêu

SBTN | 09.01.2017
Phúc đáp văn bản của dân biểu quốc hội Úc, ông Chris Hayes, bà ngoại trưởng Julie Bishop cho biết, chính phủ Úc vẫn đang tiếp tục theo dõi vụ nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam bắt giam các nhà vận động dân chủ, blogger Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, luật sư Nguyễn Văn Đài và bà Cấn Thị Thêu.

Ngoại trưởng Julie Bishop xác nhận tin nói rằng tòa đại sứ Úc tại Hà Nội đã gửi một công văn đến lãnh đạo nhà nước Cộng sản Việt Nam, đòi phóng thích bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, tức Mẹ Nấm ngay lập tức, và cho rằng bà cần được tiếp xúc với luật sư biện hộ trong lúc bị giam giữ.

Tại hội nghị Đối thoại Nhân quyền Úc và Việt Nam, tổ chức tại Hà Nội ngày 4 tháng Tám năm 2016, đoàn đại diện của Úc đã đặt vấn đề liên quan đến trường hợp của luật sư Nguyễn Văn Đài và bà Cấn Thị Thêu. Ngoại trưởng Julie Bishop cũng cho rằng tất cả các tư nhân lương tâm bị giam giữ hiện nay trong tù cần phải được đối xử theo chuẩn mực quốc tế, trong đó có việc cho phép họ tiếp xúc với thành viên trong gia đình, bác sĩ săn sóc sức khoẻ và luật sư biện hộ.

Vẫn theo bà ngoại trưởng, chính phủ Úc cam kết sẽ tiếp tục làm việc với nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam và các cộng đồng quốc tế để thúc đẩy nhân quyền tại Việt Nam. Văn bản của Bộ Ngoại giao Úc cho hay sẽ tiếp tục vận động để nhà nước Việt Nam phóng thích các ông bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, luật sư Nguyễn Văn Đài và Cấn Thị Thêu kể cả việc phải đối xử nhân đạo trong khi đang giam giữ họ.

Song Châu / SBTN